Monthly Archives: September 2017

Quan sát màu nước đánh giá chất lượng dinh dưỡng

Có thể nói chưa bao giờ nuôi trồng thủy sản lại chứng tỏ được giá trị và tiềm năng to lớn về kinh tế trong nền nông nghiệp Việt Nam như hiện nay. tag: thuốc thuỷ sản

Với bất cứ quy mô nào, từ nuôi thâm canh với hình thức trang trại hay xen canh, quảng canh với hình thức hộ gia đình thì nuôi thủy sản vẫn mang lại lợi nhuận gấp nhiều lần so với trồng lúa trên cùng một diện tích.

Quan sát màu nước đánh giá chất lượng dinh dưỡng

Điều này hoàn toàn đúng với câu nói “muốn giàu nuôi cá” được ông cha ta truyền miệng từ bao đời nay.

Tuy nhiên, lợi nhuận lớn cũng đồng nghĩa với rủi ro cao, đặc biệt là trong hoàn cảnh nghề nuôi thủy sản của nước ta chưa thật sự đạt tới trình độ tiên tiến và hiện đại.

Các hộ nuôi nhỏ lẻ vẫn chủ yếu dựa trên kinh nghiệm của bản thân là chính.

Việc đầu tư để mua sắm các trang thiết bị như các bộ kit kiểm tra môi trường hay kính hiển vi được một số người nuôi xem như là một khoản chi phí không cần thiết.

Chất lượng nước sẽ được đánh giá chủ yếu bằng cách quan sát màu nước trong ao nuôi, đây là một biện pháp đơn giản, dễ thực hiện.

Tuy nhiên, nếu không có kiến thức đầy đủ về màu nước trong ao nuôi thủy sản, người nuôi cũng sẽ dễ bị nhầm lẫn và đánh giá không đúng về hiện trạng chất lượng nước.

Trên thực tế, nước trong ao nuôi thường có màu do sự xuất hiện của các hợp chất hữu cơ hòa tan hay không hòa tan, hay do sự phát triển của tảo.

Có thể chia màu nước là 2 dạng, màu thực và màu giả.

Màu thực của nước là màu do các hợp chất hòa tan trong nước gây ra, màu giả là màu của các hợp chất không hòa tan.

Trong nuôi thủy sản ta chú ý đến màu giả của nước nhiều hơn, vì qua đó có thể đánh giá sơ bộ môi trường nước đó giàu hay nghèo dinh dưỡng.

Trong ao nuôi thường có các màu sau:

Nước màu xanh nhạt (đọt chuối non)

Màu xanh nhạt do sự phát triển của tảo lục (chlorophyta), loài tảo này thường phát triển mạnh trong môi trường nước ngọt hoặc nước lợ nhạt (dưới 10 phần nghìn).

Đây cũng là màu nước thích hợp nhất để nuôi thủy sản, tảo lục ngoài việc đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn, còn có tác dụng ổn định các yếu tố thủy lý hóa trong ao, hấp thu các chất hữu cơ thông qua đó làm giảm lượng khí độc trong ao.

Người nuôi nên cố gắng duy trì màu nước xanh nhạt, như vậy các loài thủy sản sẽ phát triển tốt hơn.

Nước màu xanh đậm (xanh rêu)

Nước có màu xanh đậm là do sự phát triển của tảo lam (Cyanophyta), loài tảo này phát triển mạnh cả trong môi trường nước ngọt, lợ, mặn.

Nếu nước trong ao nuôi có màu này thì cần có biện pháp làm giảm lượng tảo, vì đây là loại tảo không tốt cho các loài thủy sản.

Hơn nữa, nếu tảo lam phát triển quá mức có thể tiết ra chất độc làm chết cá.

Bên cạnh đó, còn có thể gây thiếu oxy về đêm do tảo hô hấp quá mức.

Màu vàng nâu (màu nước trà)

Nước có màu vàng nâu do sự phát triển của tảo silic (Bacillariophyta), loài tảo này thường phát triển mạnh ở môi trường nước lợ, mặn vào đầu vụ nuôi.

Đây là màu nước thích hợp nhất để nuôi các loài thủy sản nước lợ, mặn.

Màu vàng cam (màu gỉ sắt)

Màu này thường xuất hiện ở các ao nuôi mới đào trên vùng đất phèn.

Màu cam là do đất phèn tiềm tàng (FeS2) bị oxy hóa tạo thành các váng sắt.

Đối với ao có màu nước vàng cam cần có biện pháp khử phèn trước khi thả nuôi, có thể sử dụng vôi nông nghiệp hay bơm, xả nước nhiều lần để rửa trôi lượng phèn trong ao.

Đối với các ao đang nuôi thì cần rải thêm vôi trên bờ ao để tránh hiện tượng pH giảm đột ngột khi trời mưa.

Màu đỏ gạch (màu đất đỏ)

Nước có nhiều phù sa do đất cát bị xói mòn từ vùng thượng nguồn được dòng nước mang đến vùng hạ lưu.

Trong ao nuôi thủy sản ít khi có màu nước như vậy, tuy nhiên vùng ĐBSCL hay gặp nước đỏ gạch trên các con kênh, sông khi chuẩn bị sắp có lũ về.

Người nuôi cần lưu ý không nên cấp nước vào ao lúc này, vì lượng phù sa nhiều sẽ làm tôm, cá khó hô hấp và giảm khả năng bắt mồi.

Tốt nhất là nên cấp nước vào ao lắng trước khi cung cấp cho các ao đang nuôi.

Màu nâu đen

Nước có màu nâu đen do trong nước có chứa nhiều vật chất hữu cơ.

Màu nước này thường thấy ở các ao nuôi có hệ thống cấp, thoát nước không tốt, trong quá trình nuôi không quản lý tốt môi trường, cho ăn dư thừa nhiều sẽ dể làm nước ao nuôi có màu nâu đen.

Trường hợp này hàm lượng oxy hòa tan rất thấp, vì vậy cần có biện pháp xử lý ngay.

Có thể thay nước nhiều lần đến khi hết màu nâu đen, hoặc kết hợp sử dụng thêm các loại chế phẩm sinh học, hóa chất có thể hấp thu khí độc.

Bên cạnh đó, nếu thấy tôm, cá có hiện tượng thiếu oxy cần sử dụng quạt đảo nước hoặc các loại hóa chất cung cấp oxy tức thời, nhằm làm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại.

Quan sát màu nước trong ao nuôi là phương pháp dễ thực hiện và mang lại hiệu quả cao.

Nếu người nuôi có đầy đủ kiến thức về các loại màu nước sẽ có thể đánh giá chính xác được hiện trạng chất lượng nước.

Thông qua đó sẽ có những biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho tôm, cá sinh trưởng và phát triển. tag: thuoc thuy san

Có như vậy, chi phí đầu vào sẽ giảm thấp, lợi nhuận từ việc nuôi thủy sản cũng sẽ tăng lên đáng kể.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quan-sat-mau-nuoc-danh-gia-chat-luong-dinh-duong-34138.html

Xử lý ô nhiễm môi trường – Khoa học kỹ thuật là tiên quyết

Thưa ông, vấn đề ô nhiễm trong thủy sản đã được nêu rất nhiều nhưng hướng giải quyết ra sao? Trách nhiệm liên quan những cơ quan nào, là điều người dân thường thắc mắc?

Xử lý ô nhiễm môi trường - Khoa học kỹ thuật là tiên quyết

Ở ta ai sẽ là đầu mối ứng dụng công nghệ xử lý ô nhiễm trong nông nghiệp? Tất nhiên trước tiên là Bộ NN&PTNT, kinh phí xử lý ô nhiễm phân bổ về Bộ năm nào cũng được ưu tiên, nhưng nếu để xử lý triệt để ô nhiễm thì kinh phí hằng năm không đủ. tag: thuốc thuỷ sản

Nhiều ý kiến đổ lỗi cho nông dân, nhưng theo tôi, dù nông dân nuôi trồng có lúc chưa đúng quy trình quy chuẩn và cũng có trách nhiệm, nhưng quan trọng hơn là Nhà nước không thể để nông dân sống trong ô nhiễm.

Cần phải có những dự án cải tạo môi trường trong ngành thủy sản.

Ngoài ra, VUSTA có hơn 80 hội thành viên và liên quan nhiều đến nông nghiệp và thủy sản cũng là nơi có thể giúp nông dân giải quyết vấn đề ô nhiễm.

Ông đánh giá thế nào về công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường hiện nay?

Hiện, công nghệ cao tốn kém không thiếu, nhưng chúng ta nên kết hợp với các phương pháp xử lý ô nhiễm truyền thống ít tốn kém.

Riêng ở ĐBSCL còn có vấn đề biến đổi khí hậu, lưu lượng nước thất thường.

Tôi từng là đại biểu Quốc hội hai khóa và nhiều lần đi khảo sát đánh giá tại vùng này, thấy không chỉ nuôi trồng mà chế biến cũng gây ô nhiễm.

Công nghệ rất quan trọng, nhưng bên cạnh đó hệ thống pháp luật và ý thức người dân cũng quan trọng không kém.

Ở Nhật Bản cũng có ngành thủy sản, người Nhật có quy định rất chặt chẽ về quy trình sản xuất, tiêu thụ, người dân có ý thức rất cao và họ không làm trái quy định; vì thế, thực phẩm của họ tiêu thụ khối lượng rất lớn mỗi ngày mà vẫn đảm bảo tiêu chí ngon, an toàn.

iệc xuất khẩu vào các thị trường khó tính như Nhật hay EU đòi hỏi người nông dân và các nhà máy ở Việt Nam phải nỗ lực rất nhiều mới đạt được các tiêu chuẩn đề ra.

Phải chăng hàng thủy sản Việt Nam bị làm khó?

Tôi từng học tiến sĩ ở Nhật và thấy tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của họ rất cao; ví dụ: họ không ăn cá sông và cá cửa sông, chủ yếu ăn cá suối.

Công nghệ của Nhật thì rất mới.

Gần đây họ còn công bố những máy móc đo độ ô nhiễm trong lòng các hồ nuôi trồng thủy sản để thông báo sớm cho người nuôi xử lý.

Khi là đại biểu Quốc hội, tôi cũng từng gặp một số nghị sĩ Quốc hội Nhật Bản quan tâm vấn đề ô nhiễm trong ngành thủy sản.

Họ cũng nói rằng không thể hạ các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn xuống, vì điều đó ảnh hưởng đến sức khỏe người dân Nhật, họ chỉ có thể giúp Việt Nam các giải pháp khoa học kỹ thuật để dần nâng trình độ sản xuất, đáp ứng được yêu cầu của các thị trường tiên tiến.

Họ không thể đi theo hướng hạ tiêu chuẩn; cử tri Nhật không bao giờ đồng tình.

Để giữ vững và phát triển sản phẩm thủy sản ở các thị trường khó tính như Nhật Bản, chúng ta phải xử lý vấn đề an toàn thực phẩm ra sao, thưa ông?

Người Nhật bảo hộ nông nghiệp rất nhiều, dân số lao động nông nghiệp bình quân 65 tuổi, thanh niên không thích làm nông nghiệp.

Nhờ máy móc và kỹ thuật ổn định nên người lớn tuổi vẫn làm nông nghiệp được.

Họ muốn hợp tác lâu dài với Việt Nam, nâng tầm nông nghiệp Việt Nam lên.

Họ cũng cho rằng an ninh lương thực là quan trọng.

Kinh tế thị trường, không mấy ai thích làm nông nghiệp.

Mặt khác, người dân Nhật muốn ăn ngon, sạch, an toàn thực phẩm giá cạnh tranh, người dân Nhật cũng thích dùng hàng nội địa hơn.

Chỉ có những sản phẩm nhập khẩu uy tín chất lượng họ mới dùng; do vậy, họ muốn nâng tầm vệ sinh an toàn thực phẩm của Việt Nam chứ không phải cố tình làm khó ngành nông nghiệp Việt Nam.

Có thể xử lý được ô nhiễm trong thủy sản, vấn đề là với giá nào? Nếu quá đắt có làm không và như vậy có nên nuôi trồng nhiều hay không? Đó là bài toán kinh tế.

Theo ông, vai trò của Nhà nước trong việc xử lý ô nhiễm ngành thủy sản ra sao?

Với trình độ nuôi trồng thủy sản hiện nay và mức lợi nhuận khiêm tốn của người dân, nếu phải gánh thêm chi phí xử lý ô nhiễm môi trường thì họ không chịu nổi.

Với các doanh nghiệp, nếu đưa kinh phí xử lý ô nhiễm vào giá thành thì giá sản phẩm tăng cao.

Do đó, vai trò Nhà nước rất quan trọng; cùng đó, các hiệp hội cũng vậy, họ có thể kiểm tra chéo lẫn nhau.

Chẳng hạn, khi phát hiện ra các thành viên của mình “chơi xấu” sử dụng kháng sinh hay chất tăng trọng thì sẽ cảnh cáo và xử phạt trước khi Chính phủ phạt.

Hiệp hội ở ta, có hiệp hội hoạt động tích cực, nhưng có hiệp hội cũng không phải chịu trách nhiệm gì khi các thành viên của mình gây ra ô nhiễm và làm ảnh hưởng đến uy tín ngành mình.

Cuối cùng, hậu quả là ô nhiễm không được giải quyết từ nội bộ hiệp hội, ngành.

Nhiều ý kiến cho rằng, nếu các nhà khoa học tích cực hơn trong lĩnh vực này thì ô nhiễm trong nông nghiệp mới sớm được giải quyết?

Các nhà khoa học không ai quá đề cao tiền bạc.

Họ cần sự tôn vinh của xã hội.

Những người có động cơ kiếm nhà lầu xe hơi thì không đi theo con đường khoa học.

Vấn đề là các ứng xử và thù lao các nhà khoa học cũng phải xứng đáng công sức họ bỏ ra.

Nhiều người nói khó khăn thì từng bước giải quyết, nhưng từng bước lâu quá thì những kết quả nghiên cứu biết bao giờ đến với nông dân và nền kinh tế không tận dụng được sự phát triển khoa học kỹ thuật. tag: thuoc thuy san

Trân trọng cảm ơn ông!

TS Nghiêm Vũ Khải: Các nhà khoa học đã đóng góp rất nhiều vào giải quyết ô nhiễm và an toàn vệ sinh thực phẩm, nhưng nếu có sự đãi ngộ và tôn vinh nhiều hơn thì chắc chắn kết quả thu được sẽ tích cực hơn nữa.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/xu-ly-o-nhiem-moi-truong-khoa-hoc-ky-thuat-la-tien-quyet-38851.html

Nâng cao năng suất bằng thức ăn chức năng nguồn gốc tự nhiên

Nhờ sử dụng các chất phụ gia thức ăn chức năng nguồn gốc tự nhiên, có khả năng kết nối đa tác động, các hộ nuôi tôm tại Ecuador đã cải thiện hiệu quả, năng suất thu hoạch, tỷ lệ sống trên tôm ngay ở những ao nuôi có môi trường nhạy cảm dịch bệnh. tag: thuốc thuỷ sản

Hiểm họa dịch bệnh

Dịch đốm trắng (WSS), một trong những nguyên nhân chính làm ngành tôm bị đình trệ vào những năm 1990, lại đang tiếp tục hoành hành ở Mexico, Trung và Nam Mỹ.

Nâng cao năng suất bằng thức ăn chức năng nguồn gốc tự nhiên

Đây cũng là những nước vẫn duy trì phương pháp nuôi tôm thâm canh trong ao lớn, và thường không tuân thủ các biện pháp an ninh sinh học nghiêm ngặt để chống lại sự xâm nhập của virus gây bệnh.

Sản lượng tôm tại Đông Nam Á và Mexico đã giảm mạnh kể từ cuối 2012 bởi dịch EMS.

Xuất phát từ thực tế người nuôi tôm nhiều nơi trên thế giới đang đối mặt nguy cơ làm ăn thua lỗ do dịch bệnh, các nhà khoa học tại Ecuador đã tiến hành nhiều nghiên cứu và phát hiện việc bổ sung thức ăn chức năng có chất điều biến sức khỏe đường ruột sẽ cải thiện hiệu quả tỷ lệ sống, tăng năng suất thu hoạch và chuyển hóa thức ăn.

Tôm là vật nuôi dễ bị xây xước tại đáy ao, bởi vậy nó vô tình làm tăng nguy cơ lây nhiễm, nguy cơ biến đổi các hệ vi khuẩn giữa môi trường, hệ tiêu hóa và khiến vi khuẩn bất lợi cho hệ đường ruột sinh sôi nảy nở, ảnh hưởng lớn tới chức năng tiêu hóa.

Hệ tiêu hóa của tôm lại được coi là cửa ngõ xâm nhập của các loài vi khuẩn và virus gây bệnh – mối nguy lớn nhất đe dọa sản lượng tôm.

Trong khi đó, sử dụng các loại thuốc kháng sinh kiểm soát sự phát triển của vi khuẩn suốt quá trình sản xuất không còn là giải pháp hữu hiệu hàng đầu, bởi nguy cơ kháng thuốc và tồn dư kháng sinh ảnh hưởng sức khỏe người tiêu dùng.

Vai trò thức ăn chức năng

Những phương thức kiểm soát hệ sinh thái vi khuẩn trong hệ thống nuôi tôm cần phải được thay thế thường xuyên.

Cách thức tiếp cận bền vững nhằm điều chỉnh hệ vi khuẩn đường ruột trên tôm gồm việc sử dụng các hợp chất tự nhiên có khả năng điều chỉnh hệ vi khuẩn theo hướng kết hợp có lợi, ví dụ như probiotics, axit hữu cơ, chiết xuất nấm men và phytobiotics.

Cách thức sử dụng như trên có thể tạo ra những hiệu ứng hợp đồng.

Tại Ecuador, thức ăn chức năng chứa những hoạt chất cải thiện đường ruột cho phép cung cấp vào mỗi cữ ăn của tôm một lượng kháng sinh tự nhiên vừa đủ.

Những loại thức ăn này được coi là giải pháp quan trọng hàng đầu giúp chống lại dịch bệnh.

Tuy nhiên, sự thành công của phương pháp này phụ thuộc vào việc lựa chọn hoạt chất cải thiện đường ruột hiệu quả.

Theo các hộ nuôi tôm tại đây, những phụ gia thức ăn cải thiện đường ruột lý tưởng phải ổn định nhiệt và dễ kết hợp được với thức ăn thông thường.

Ngoài ra, những phụ gia thức ăn có nguồn gốc tự nhiên kết hợp các cơ chế hoạt động khác nhau, như là chất diệt khuẩn/kìm hãm vi khuẩn, cũng như hợp chất ngăn chặn Quorum Sensing được coi là kháng sinh nồng độ thấp hiệu quả nhất, giúp giảm tác động của vi khuẩn gây bệnh điển hình như vibrio.

Thách thức

Từ đầu năm, các nhà khoa học Ecuador đã tiến hành thử nghiệm thí điểm để đánh giá hiệu quả cải thiện năng suất tôm của thức ăn chức năng tại các trại nuôi ở tỉnh Guayas, Ecuador.

Theo đó, hàm lượng thức ăn chức năng tối đa là 3 g/kg thức ăn thương mại suốt giai đoạn thử nghiệm; ao nuôi xấp xỉ 170 m2, thả tôm cỡ trung bình 70 mg, mật độ 10 con/m2, thời gian 78 ngày.

Thức ăn được sử dụng hằng ngày vào buổi sáng và tuân theo bảng cố định giống nhau trên tất cả các ao.

Quản lý ao theo cách thức quản lý sản xuất hàng ngày của trại nuôi.

Thử nghiệm này đã cho thấy sự bổ sung các hoạt chất cải thiện đường ruột giúp tăng tỷ lệ tôm sống trên 20,5%; năng suất tăng 14,1% và tăng chuyển hóa thức ăn hơn 14,9% nhưng tăng trưởng chậm hơn 4,7%.

Trong một nghiên cứu đăng trên tờ Aqua Culture Asia Pacific tháng 5 – 6, nhóm nghiên cứu của tiến sĩ Trần Lộc cũng thừa nhận tính hiệu quả của các sản phẩm phytobiotic tự nhiên trong việc ngăn chặn dịch bệnh EMS và tăng tỷ lệ sống sót trên tôm tới 62 – 107% và giảm lượng vi khuẩn Vibrio trong hệ tiêu hóa của tôm.

Trong quá trình sản xuất thử nghiệm, ngoài tăng trưởng chậm thì thách thức chính với các trại nuôi vẫn là dịch bệnh WSSV và Vibrio dù những phụ gia thức ăn nguồn gốc tự nhiên đa tác động có thể chống lại Vibrio và cải thiện hiệu quả tỷ lệ sống.

Năm 2011, tại triển lãm và hội nghị chuyên đề về tôm nuôi quốc tế, tiến sĩ Jorge Cuellar đã nói rằng, sử dụng thường xuyên thức ăn chức năng có nguồn gốc thực vật sẽ tăng tỷ lệ sống lên 24% và 18% trong hai chu kỳ sản xuất độc lập tại một trại nuôi tôm bán thâm canh ở Panama. tag: thuoc thuy san

Tuy nhiên, những tác động thiếu tích cực tới tính trạng tăng trưởng cần phải được nghiên cứu sâu hơn.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nang-cao-nang-suat-bang-thuc-an-chuc-nang-nguon-goc-tu-nhien-38835.html

Cần khắc phục những hạn chế của mô hình nuôi tôm nước tĩnh

Mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến “nước tĩnh” được cho là hướng đi mới, phù hợp điều kiện Cà Mau, nhất là đối với những hộ ít đất, thiếu vốn, trình độ kỹ thuật còn kém. Mô hình này có tác động tích cực trong bảo vệ môi trường và mang lại hiệu quả kinh tế khá. tag: thuốc thuỷ sản

Mô hình nuôi này hiện được nông dân trong tỉnh áp dụng trên hơn 1.000ha, phần lớn đều cho kết quả rất khả quan và đang có xu thế mở rộng.

Cần khắc phục những hạn chế của mô hình nuôi tôm nước tĩnh

Ưu điểm nổi bật là nông dân trong vùng nuôi được tổ chức lại sản xuất khá tốt:

Thực hiện sên vét, lấy nước tương đối đồng loạt; có áp dụng tiến bộ kỹ thuật ở mức độ đơn giản qua việc biết phơi đáy ao đầm; có dùng phân bón, men vi sinh, xử lý nước trước khi thả tôm, …

Tuy nhiên, để mô hình hiệu quả cao và bền vững hơn, nên nuôi có ao vèo, ao lắng, khu lắng xử lý nước riêng và có thể theo lộ trình:

Chuẩn bị mua một lần đủ lượng tôm giống sạch bệnh, đảm bảo chất lượng theo mật độ 2 – 3 con/m2 cho cả ruộng nuôi, thả trước vào ao vèo để có điều kiện chăm sóc tốt nhằm đạt đầu con.

Sau khi chuẩn bị xong ruộng nuôi đảm bảo các yếu tố môi trường nước thì cho ra ruộng và vẫn dùng ao – khu lắng để châm bù nước bốc hơi.

Khi tôm đã lớn thì mở cả ao lắng cho tôm qua thành ao nuôi luôn cho đến khi thu hoạch.

Như thế mặt ruộng vẫn đảm bảo 100% diện tích nuôi, trừ bờ bao, mà vẫn đảm bảo có vèo, có ao – khu lắng đúng quy trình kỹ thuật.

Có điều tùy giai đoạn tôm nhỏ – lớn mà ta thay đổi mật độ nuôi giãn ra phù hợp, đây cũng là cách thay đổi môi trường sống, kích thích tôm lớn nhanh hơn.

Về độ sâu mực nước ruộng nuôi, phải đảm bảo đạt hơn 0,5m, điều này nhìn chung vùng đất trũng là không khó, nhưng ở vùng ruộng gò, nhiều cua còng soi mội, hay nơi đất hàm lượng sét thấp không giữ được nước là khó đạt, nhất là trong mùa khô ở vụ nuôi chính, tháng 2 – 5.

Cho nên giải pháp để đảm bảo độ sâu, là những nơi đó nhất thiết phải đào hạ thấp mặt đất ruộng gò theo mô hình 2-5-3.

Tức là đào đắp làm sao để đảm bảo chia ruộng thành: 2 phần bờ (lấy đất đắp từ việc đào, sên vét ao nuôi), 3 phần ao nuôi (có thể nuôi thâm canh hay nuôi mật độ cao) và 5 phần ruộng để vừa có thể cấy lúa vào mùa mưa, vừa làm ao – khu lắng nước và thành khu nuôi mở rộng trong vụ nuôi chính.

Về mật độ nuôi, trong mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến “nước tĩnh” này, nông dân chấp nhận thả tôm giống thưa 2 – 3 con/m2 là bước tiến đáng ghi nhận.

Nhưng chuyện thả nối tiếp thêm các đợt tôm giống hay thả gối đầu trong vụ nuôi thì không khác cách nhiều nông dân vẫn đang làm, phải thận trọng và không nên khuyến cáo, chỉ nên chọn đủ giống tốt, thả một lần theo lộ trình “bung rộng sau vèo, ra lắng” như nêu trên, để chủ động tránh lây nhiễm bệnh từ nguồn giống thả sau…

Và chuyện phơi đáy, cắt vụ luân canh hàng năm là một tiến bộ đáng ghi nhận rất nên khuyến cáo, nhưng nếu được kết hợp luân canh với cấy lúa hay cây – con hệ ngọt vào mùa mưa, hoặc xen canh thêm cua, cá phù hợp trong vụ tôm nuôi chính sẽ càng hiệu quả cao hơn. tag: thuoc thuy san

Tóm lại, mô hình nuôi tôm quảng cảnh cải tiến “nước tĩnh” cần được nghiên cứu bằng một đề tài khoa học nghiêm túc, để có số liệu thuyết phục, đảm bảo tính khoa học lẫn thực tiễn, để có cơ sở hiệu chỉnh thành “quy trình nuôi chuẩn”, khả thi và có tính an toàn cao trước khi triển khai nhân rộng đại trà, đảm bảo không có những sơ suất đáng tiếc!

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/can-khac-phuc-nhung-han-che-cua-mo-hinh-nuoi-tom-nuoc-tinh-38836.html

Tôm – lúa Mô hình canh tác của tương lai

Mô hình tôm – lúa cho hiệu quả kinh tế cao do đầu tư thấp, ít dịch bệnh và ít dùng thuốc kháng sinh, tôm chất lượng cao. Tuy nhiên, hình thức canh tác này đang gặp khó khăn do biến đổi khí hậu và chưa xây dựng được thương hiệu cho sản phẩm chất lượng cao. tag: thuốc thuỷ sản

Tôm - lúa Mô hình canh tác của tương lai

Ba tỉnh dẫn đầu

Tỉnh có diện tích tôm – lúa lớn nhất là Kiên Giang với 77.264 ha.

Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản Kiên Giang, bà Nguyễn Thị Than Nga, cho biết, tôm – lúa tập trung ở các huyện An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận, Gò Quao, Hòn Đất, Kiên Lương.

Trong giai đoạn 2010 – 2015, diện tích tôm – lúa tăng bình quân hằng năm 7,1%; Năng suất năm 2010 trung bình 300 kg/ha, tăng lên 373 kg/ha năm 2014.

Riêng năm 2015, đến tháng 10, diện tích này vượt kế hoạch 9,1%, sản lượng thu hoạch 26.699 tấn, đạt 94%.

Năng suất tôm nuôi trung bình năm 2015 giảm so năm 2014 do thời tiết nắng nóng, một số vùng tôm bị chết.

Tôm sú được nuôi phổ biến, từ tháng 1 – 8 hàng năm.

Sau khi thu hoạch tôm, rửa mặn để làm lúa, các giống OM2517, ST5, năng suất đạt 4 – 5 tấn/ha, cá biệt có vùng 6 – 7 tấn/ha.

Từ năm 2012, tôm thẻ chân trắng cũng được thả nuôi trên ruộng lúa.

Từ năm 2014, thêm tôm càng xanh xen canh với tôm sú.

Năm 2015, có 3.578 ha thả tôm càng xanh, thu hoạch 2.420 tấn, năng suất đạt 676 kg/ha.

Thứ hai là tỉnh Cà Mau với 51.570 ha trong năm 2015, tính đến tháng 10, chiếm 17,9% diện tích nuôi tôm nước lợ 262.915 ha của tỉnh.

Cà Mau bắt đầu tôm -lúa khá sớm, từ năm 2000, tập trung ở các huyện Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời, Cái Nước và thành phố Cà Mau.

Những năm đầu chưa có kinh nghiệm, năng suất chỉ 100 – 200 kg/ha.

Giai đoạn 2005 – 2015, diện tích tăng nhanh và năng suất cũng tăng, tôm 320 – 350 kg/ha, còn lúa 4 – 4,1 tấn/ha.

Ở Cà Mau, nuôi trong ruộng lúa cũng có tôm sú, tôm thẻ chân trắng và tôm càng xanh.

Luân canh tôm – lúa khá đa dạng về hình thức: 1 vụ tôm 1 vụ lúa, 1 vụ tôm và 1 vụ lúa có thả xen tôm, cua.

Trong đó, tôm sú phổ biến nhất, còn tôm càng xanh và cua thả xen ghép.

Bạc Liêu đứng thứ ba với diện tích tôm – lúa 29.867 ha ở thời điểm hiện nay.

Ông Phạm Thanh Thuận ở Sở NN&PTNT cho biết, tôm – lúa bắt đầu thực hiện năm 2001 với 5.851 ha và tăng nhanh qua các năm; tập trung ở huyện Hồng Dân, Phước Long, Giá Rai, Vĩnh Lợi.

Nơi đây có đặc điểm là diện tích trồng lúa sau nuôi tôm còn thấp, hiện mới chiếm khoảng 30% diện tích đã nuôi tôm; bởi, mùa mưa đến muộn mà kết thúc sớm, thiếu nước ngọt rửa mặn đồng ruộng.

Hằng năm, Bạc Liêu nuôi tôm từ tháng 2 và kết thúc vào tháng 7, sang tháng 8 – 9 sạ lúa lúa giống dài ngày, hoặc từ tháng 9 đến 10 sạ giống ngắn ngày.

Tôm sú đạt năng suất bình quân 300 – 400 kg/ha, thu lãi 35 – 40 triệu đồng/ha.

Ngoài tôm sú cũng thả tôm thẻ chân trắng, tôm càng xanh và cua.

Lúa phổ biến là giống một bụi đỏ, OM5451, OM2017, HS182, năng suất 4,5 – 6 tấn/ha.

Hạn chế tối đa rủi ro

Hiện có nhiều hình thức luân canh tôm – lúa như: Nuôi bán thâm canh 1 vụ tôm và 1 vụ lúa phát triển từ năm 2010.

Với tôm sú, tôm – lúa cho lợi nhuận trung bình khoảng 54 triệu đồng/ha/năm; trong đó, lợi nhuận từ tôm khoảng 30 triệu đồng (45%).

Tôm thẻ chân trắng đạt lợi nhuận cao hơn, 69,1 triệu đồng/ha; trong đó, lợi nhuận từ tôm khoảng 55 triệu đồng (79%).

Sự khác biệt này chủ yếu do thả giống tôm thẻ chân trắng 20 – 30 con/m2, còn tôm sú chỉ 10 con/m2.

Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế thì tôm sú lại cao hơn vì đầu tư ít.

Trong luân canh tôm – lúa, chi phí cho sản xuất lúa thấp hơn nhiều so với chuyên canh lúa vì giảm phân bón, thuốc bảo vệ thực vật.

Cạnh đó, thả thêm cua còn cho thu nhập khoảng 20 triệu đồng/ha.

Hình thức này, thích hợp với diện tích nhỏ.

Nuôi bán thâm canh 2 vụ tôm, 1 vụ lúa, phát triển với tôm thẻ chân trắng do nuôi một vụ chỉ 60 – 90 ngày.

Có hộ gia đình thu nhập một năm khoảng 236 triệu đồng/ha, trong đó tôm chiếm 89%; tuy nhiên, hiệu quả thấp do đầu tư cao, lợi nhuận chi khoảng 100 triệu đồng.

Rủi ro cũng cao, nghiên cứu ở tỉnh Sóc Trăng trong năm 2015, có đến 21,9% số hộ lỗ nuôi tôm, 15,6% số hộ lỗ trồng lúa.

Ở tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu cũng có nhiều hộ bị lỗ nhưng tỷ lệ thấp hơn ở Sóc Trăng.

Nuôi tôm quảng canh cải tiến và 1 vụ lúa, phát triển 15 năm nay, có nhiều thay đổi, cải tiến về kỹ thuật và đang đi sâu vào vùng lúa năng suất thấp ở các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu.

Thường từ tháng 1 đến 8 là nuôi tôm, tháng 9 – 12 làm lúa.

Luân canh tôm – lúa cho hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn chuyên canh tôm hoặc lúa.

Khảo sát nuôi tôm quảng canh cải tiến và 1 vụ lúa: tỉnh Bạc Liêu thu 77,8 triệu đồng/ha/năm, lời 55,4 triệu; Cà Mau thu 54,2 triệu đồng/ha, lời 39,1 triệu; Kiên Giang thu 81,4 triệu đồng/ha, lời 50,9 triệu.

Thu nhập ở tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau cao hơn vì có thả kết hợp tôm càng xanh.

Xét tỷ suất lợi nhuận trên đồng vốn đầu tư, có thể thấy là khá cao 1,67 – 2,59 lần.

Về hiệu quả xã hội và môi trường, nuôi tôm quảng canh cải tiến và 1 vụ lúa là bền vững nhất trong các mô hình tôm – lúa hiện nay; đầu tư thấp nên phù hợp với điều kiện tài chính và trình độ của đa số nông hộ.

Mức độ rủi ra cũng thấp hơn các mô hình tôm – lúa khác.

Nghiên cứu năm 2015, số hộ bị lỗ ở Cà Mau và Bạc Liêu chỉ khoảng 3 – 6%, thấp hơn rất nhiều nuôi tôm bán thâm canh và lúa ở tỉnh Sóc Trăng là 14 – 21%.

Nuôi tôm thưa, lượng thức ăn bổ sung thấp nên còn được xem là mô hình canh tác thông minh dưới tác động của biến đổi khí hậu, cả ba mặt: an ninh lương thực, khả năng thích ứng và giảm phát thải. tag: thuoc thuy san

Tuy nhiên, nuôi tôm quảng canh cải tiến và 1 vụ lúa cũng có nhược điểm là phụ thuộc vào thời tiết nên khó chủ động.

Năng suất và tỷ lệ tôm sống thấp.

Sản xuất nhỏ lẻ nên khó tiếp cận với đại lý lớn.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/tom-lua-mo-hinh-canh-tac-cua-tuong-lai-38840.html

Thả tôm giống và cách chăm sóc, quản lý môi trường ao nuôi – Phần 1

Để tạo môi trường nuôi thích hợp và hạn chế các tác nhân làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của tôm cần theo dõi các thông tin quan trắc cảnh báo về dịch bệnh trong khu vực để có biện pháp phòng ngừa thích hợp. tag: thuốc thuỷ sản

1. Chọn và thả giống

Tôm là loài khó nuôi, nhạy cảm thời tiết, nên sự thay đổi thời tiết, nguồn nước cuối năm là thử thách lớn đối với tôm.

Thả tôm giống và cách chăm sóc, quản lý môi trường ao nuôi - Phần 1

Thời điểm này khí hậu nóng lạnh bất thường, chất lượng con giống không đảm bảo, để giảm thiểu thiệt hại do thả tôm không đúng thời điểm cần nghiêm chỉnh tuân thủ lịch thả giống theo hướng dẫn của cơ quan quản lý thủy sản địa phương.

1.1. Chọn giống

Chỉ mua tôm giống có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng; được kiểm dịch; cỡ giống tôm sú từ P15 – P20; tôm thẻ chân trắng từ P12 trở lên; kích cỡ đồng đều (số lượng tôm khác cỡ không vượt quá 5%).

Kiểm tra tôm giống bằng cảm quan trực tiếp tại bể, yêu cầu:

Kiểm tra trực quan: Chiều dài ≥ 11 mm (từ mũi chùy đến cuối đuôi), tôm có kích cỡ đồng đều, độ lệch không quá 15%.

Hình thái cấu tạo ngoài hoàn chỉnh, chùy, râu thẳng, đuôi xòe. Màu sắc: xám sáng, vỏ bóng mượt. Phản ứng nhanh nhẹn khi có tác động đột ngột. Bắt mồi đều đặn, ruột đầy.

Kiểm tra trên kính hiển vi: Đặt tôm trong đĩa lồng petri hoặc trên lamen có chứa 1 giọt nước biển.

Quan sát mẫu vật trên kính hiển vi có độ phóng đại 100x hoặc 150x các phụ bộ, như chùy, râu A1, A2, chân ngực, chân bụng, chân đuôi, đốt đuôi tìm ra những loài nguyên sinh động vật sống ký sinh. Quan sát bề mặt của vỏ tìm kiếm các tổn thương trên vỏ.

Phương pháp thử gây sốc: Lấy khoảng 20 mẫu tôm cần kiểm tra cho vào cốc thủy tinh 300 ml.

Tính lượng nước ngọt cần cho vào, tiến hành hạ đột ngột độ mặn xuống 15‰ hoặc lượng Formalin cần cho vào để đạt nồng độ 100‰, sau đó theo dõi trong vòng 2 giờ, nếu tỷ lệ sống được 95% là đạt yêu cầu.

Nên gửi mẫu đến các phòng thử nghiệm được cơ quan có thẩm quyền để kiểm tra xét nghiệm các bệnh do vi rút như bệnh đốm trắng (WSSD), đầu vàng (YHV), bệnh gan tụy (HPV) đối với tôm sú và hội chứng Taura đối với tôm thẻ chân trắng trước khi mua giống.

1.2. Thả giống:

– Mật độ thả: Đối với tôm sú: Nuôi thâm canh 15 – 20 con/m2; nuôi bán thâm canh 8 – 14 con/m2.

Đối với tôm thẻ chân trắng: 30 – 60 con/m2 (đối với những hộ mới chuyển đổi) và 60 – 80 con/m2 (những hộ có kinh nghiệm và đủ điều kiện).

– Cách thả: Trước khi thả giống cần so sánh các chỉ số môi trường (pH, độ mặn…) giữa trại giống và ao nuôi để điều chỉnh môi trường nhằm tránh gây sốc cho tôm.

Mỗi ao nuôi cần thả đủ lượng giống trong một lần.

Toàn vùng nuôi nên tập trung thả giống trong 3 – 4 ngày.

Trước khi thả giống cần chạy quạt nước từ 8 – 12 giờ để đảm bảo lượng ôxy hòa tan trong ao phải lớn hơn 4 mg/l đối với tôm sú và 6 mg/l đối với tôm thẻ chân trắng.

Nên thả tôm vào lúc sáng sớm hay chiều mát, không thả tôm vào lúc trời mưa hay trong điều kiện môi trường ao nuôi chưa thích hợp, thả tôm ở đầu hướng gió để tôm dễ phân tán khắp ao.

Có 2 cách thả tôm cần chú ý như sau:

Cách 1: Thả các bao tôm giống trên mặt ao khoảng 10 – 15 phút để cân bằng nhiệt độ, sau đó mở bao cho tôm bơi ra từ từ (chỉ áp dụng khi độ mặn của nước trong và ngoài bao tôm chênh lệch không quá 5‰).

Cách 2: Thuần hóa tôm giống ngay tại ao để tôm thích nghi dần với độ mặn của nước ao và các yếu tố môi trường khác.

Chuẩn bị thau/chậu lớn có dung tích khoảng 20 lít và máy sục khí.

Đổ các bọc tôm vào thau, khoảng 10.000 con/thau và sục khí.

Cho thêm nước ao vào thau từ từ để tôm thích nghi dần.

Sau 10 – 15 phút nghiêng thau cho tôm bơi ra từ từ.

Có thể ước lượng tỷ lệ sống của đàn tôm bằng cách thả tôm vào giai lưới có diện tích 2 – 3 m2 và sâu 1 m đặt ngay trong ao, thả vào giai từ 1.000 – 2.000 tôm bột, cho tôm ăn bình thường.

Sau 3 – 5 ngày kéo lưới lên đếm và xác định tỷ lệ tôm còn lại trong lưới.

Một số dấu hiệu cho thấy tôm khỏe và thích nghi với môi trường ao nuôi là không có tôm chết khi thuần trong thau, tôm bơi lội linh hoạt, bám thành thau.

Tôm bơi chìm xuống đáy ao, không bám theo mé nước, không nổi trên mặt nước.

Nếu phải sử dụng dụng cụ thả, nên dùng riêng cho từng ao, rửa sạch, khử trùng dụng cụ trước và sau khi sử dụng để tránh lây lan dịch bệnh. tag: thuoc thuy san

2. Quản lý thức ăn

Một số tình huống người nuôi cần giám sát chặt chẽ việc cho tôm ăn

TT Tình huống Tỉ lệ % so với mức ăn bình thường
1 Trong thời gian cho ăn gặp mưa 50% hoặc đợi sau khi hết mưa
2 Tảo phát triển dày đặc 70% trong 3 ngày hoặc cho đến khi tảo giảm
3 Tôm đang lột xác (pH = 8 – 9) 30% vào buổi chiều, 50% vào buổi tối và 110% vào buổi sáng
4 Tôm đang lột xác (pH < 8) 80 – 90%
5 Trời có gió nhiều 60%
6 Tảo tàn 50% cho đến khi môi trường được làm sạch bằng quạt khí mạnh và sử dụng vi sinh tốt
7 Thay nước ít (các thông số môi trường có sự khác biệt nhỏ) 80% cho 2 bữa ăn
8 Thay nước nhiều (các thông số môi trường có sự biến đổi lớn) 50% trong 1 ngày
9 Sử dụng một vài hoá chất 0% cho 1 bữa ăn (nhịn ăn 1 bữa)
10 Ôxy thấp và tôm nổi đầu vào buổi sáng 0% trong 1 ngày
11 Có xuất hiện khí độc 60 – 70% cho đến khi khí độc giảm
12 Thời tiết thay đổi lớn 70 – 80% cho đến khi thời tiết ổn định
13 Nhiệt độ nước dưới 220C hoặc trên 350C Ngưng cho ăn đến khi nhiệt độ nước phù hợp

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/tha-tom-giong-va-cach-cham-soc-quan-ly-moi-truong-ao-nuoi-phan-1-38869.html

Sử dụng thuốc, hóa chất nuôi trồng thủy sản

Thâm canh hóa đang là xu hướng trong nghề nuôi thủy sản hiện đại, mật độ nuôi không ngừng được nâng cao kéo theo dịch bệnh ngày càng nhiều và diễn biến phức tạp. tag: thuốc thuỷ sản

Sử dụng thuốc, hóa chất nuôi trồng thủy sản

Việc lạm dụng các loại hóa chất tùy tiện trong nuôi trồng thủy sản đang dẫn đến nhiều hệ lụy, không những gây tốn kém chi phí mà còn khiến người nuôi thua lỗ, nguy hiểm hơn chính là vấn đề mất an toàn thực phẩm gây hại đến sức khỏe con người.

Điều kiện của những hộ nuôi rất khác nhau tùy thuộc vào loài cá nuôi, hệ thống hay loại hình nuôi, các thiết bị dùng để nuôi, chất lượng nước và địa điểm nuôi, vì thế các phương pháp áp dụng trong việc sử dụng thuốc, hóa chất cần phải được điều chỉnh phù hợp, nhưng nhìn chung khi xử lý cần tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định:

– Chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây bệnh.

Đây là nguyên tắc rất quan trọng, vì khi xác định chính xác tác nhân gây bệnh sẽ giúp cho việc điều trị được hiệu quả, ít tốn kém chi phí và thời gian.

Tuy nhiên, nếu người nuôi không đủ khả năng xác định nguyên nhân cần tham khảo ý kiến của các nhà chuyên môn, tránh việc chẩn đoán sai dẫn đến điều trị không đạt kết quả.

– Quyết định áp dụng điều trị thông thường sẽ bao gồm 2 hình thức: Nếu đã chẩn đoán chính xác tác nhân gây bệnh, cần lựa chọn loại hóa chất đặc trị để loại trừ tác nhân đó.

Trong trường hợp vẫn chưa xác định được nguyên nhân chính, bệnh có thể cùng lúc do nhiều tác nhân gây ra, cần tiến hành điều trị triệu chứng và phối hợp nhiều loại hóa chất để loại trừ tất cả tác nhân gây bệnh.

Tôm, cá mắc bệnh thường do một số tác nhân chủ yếu bao gồm ký sinh trùng, vi khuẩn, vi rút, nấm… hoặc do các yếu tố môi trường không phù hợp.

Tùy theo từng loại tác nhân, sẽ có các loại thuốc, hóa chất đặc trị riêng biệt.

– Trong quá trình sử dụng thuốc hóa chất cũng cần lưu ý đến các quy định của nhà nước như không sử dụng các loại hóa chất nằm trong danh mục cấm sử dụng, có nguồn gốc xuất xứ không rõ ràng hoặc hết hạn sử dụng.

Ví dụ, Green Malachite (Xanh Malachite) là loại hóa chất sử dụng để diệt ký sinh trùng, nấm cho động vật thủy sản, tuy nhiên loại hóa chất này nằm trong danh mục cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh của Bộ NN-PTNT vì có khả năng gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, vì vậy người nuôi tuyệt đối không được sử dụng.

– Sau quá trình điều trị cần có những đánh giá về tình trạng sức khỏe của tôm, cá và khả năng tác dụng của hóa chất.

Tùy theo điều kiện nuôi, đối tượng nuôi mà khả năng tác dụng của các loại hóa chất cũng khác nhau, vì vậy cần có những đánh giá về tính hiệu quả để tích lũy kinh nghiệm cho những lần điều trị tiếp theo.

– Không nên cho tôm, cá ăn 24 giờ trước khi điều trị là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc và giảm sốc cho đối tượng nuôi.

– Đối với người nuôi chưa có nhiều kinh nghiệm, mới sử dụng thuốc lần đầu nên thử điều trị với liều lượng thấp trong diện tích nhỏ trước khi tiến hành điều trị toàn bộ.

Điều này nhằm làm giảm đến mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra do việc tính nhầm liều lượng sử dụng

– Nên hạ thấp mức nước trước khi đều trị.

Điều này giúp làm giảm số lượng thuốc, hóa chất cần dùng và có thể dễ dàng cung cấp thêm nước để làm giảm nồng độ thuốc khi cần thiết.

– Cần lưu ý đến khả năng xảy ra những phản ứng có hại, trong trường hợp này cần phải chuẩn bị để ngừng ngay lập tức việc điều trị.

Đối với thủy sản nuôi trong ao, cần phải tiến hành cấp nước mới hoặc thay nước ngay lập tức, bật hệ thống quạt nước (nếu có), chú ý việc cấp nước hoặc thay nước cần diễn ra nhanh chóng.

Đối với thủy sản nuôi trong bể cần loại bỏ hết các hóa chất sử dụng trong quá trình điều trị bằng cách thay toàn bộ nước và sục khí liên tục.

– Cần phải chú ý đến dòng chảy trong hệ thống, đặc biệt là trong các hệ thống tuần hoàn hoặc các các bể chứa nguồn nước cấp, vì việc điều trị ở bể này có thể gây ảnh hưởng đến bể khác trong cùng hệ thống.

– Nên sử dụng thuốc, hóa chất vào những thời điểm tôm, cá ít bị sốc nhất trong ngày, thông thường là vào buổi sáng, khi nhiệt độ thấp, tuy nhiên cần lưu ý về hàm lượng oxy thấp lúc sáng sớm.

Thời điểm thích hợp nhất là vào khoảng từ 7 – 8 giờ.

– Phải luôn quan sát cá, tôm trong suốt quá trình trị liệu để có thể xử lý nhanh khi cần thiết.

Khi có biểu hiện như bơi lội mạnh bất thường, nổi đầu, lờ đờ, lật ngửa bụng cần phải có biện pháp can thiệp ngay để tránh tổn thất.

– Hóa chất dùng xử lý môi trường có rất nhiều loại, vì thế cần phải hiểu hoạt tính của từng loại và dùng đúng theo hướng dẫn để có hiệu quả cao.

– Khi dùng hóa chất để xử lý nước cần phải biết thời gian chúng hết tác dụng để đảm bảo khi đưa vào ao nuôi không ảnh hưởng đến tôm, cá.

– Dùng hóa chất để xử lý nước cho ao đang nuôi tôm, cá cần phải lưu ý việc hóa chất sẽ làm chết tảo và các vi sinh vật có lợi trong ao.

Thông thường sau khi dùng hóa chất thì môi trường nước có thể thay đổi như tảo chết làm nước ao trong, giảm quang hợp để cung cấp oxy cho ao, nền đáy ao sẽ dơ hơn do tảo chết lắng xuống đáy ao.

– Sau khi dùng hóa chất nên cải thiện môi trường ao nuôi, cần cấp thêm nước mới hoặc thay nước, có thể sử dụng môt số chế phẩm sinh học để bổ sung nguồn lợi khuẩn, nhằm làm ổn định môi trường. tag: thuoc thuy san

– Dùng thuốc, hóa chất xử lý môi trường cần phải dùng đúng liều và dùng một lần, tránh dùng liều thấp và dùng nhiều lần liên tiếp nhau, vì như vậy màu nước ao sẽ mất và khó gây màu trở lại.

https://www.youtube.com/watch?v=c1Mc3irAA_U

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/su-dung-thuoc-hoa-chat-nuoi-trong-thuy-san-38875.html

Bí quyết nuôi thành công tôm nước mặn trong ao nước ngọt

Các trại nuôi tôm thẻ, tôm sú trong ao nước ngọt thường chỉ thành công 2-3 vụ đầu tiên. Những vụ nuôi tiếp theo các ao tôm này thường gặp phải các vấn đề nghiêm trọng giống nhau như bệnh mềm vỏ, vỏ xanh, tôm không đồng đều kích cở hay tình trạng tôm chết kéo dài trong suốt quá trình nuôi. Vậy nguyên nhân của tình trạng này là gì?

Bí quyết nuôi thành công tôm nước mặn trong ao nước ngọt - Lý thuyết đến thực tiễn

Đầu tiên cần phải hiểu được bản chất của môi trường nước ngọt. tag: thuốc thuỷ sản

Qua bảng bên dưới ta thấy được so với nước mặn môi trường nước ngọt rất nghèo các khoáng chất.

Bảng 1: So sánh thành phần một số chất chính ở trong nước mặn và nước ngọt (Claude E.Boyd, 2000)

Thành phần Nước biển (mg/l) Nước ngọt (mg/l)
Clorua (Cl)Natri (Na)

Sulfate (SO42-)

Magie (Mg)

Canxi (Ca)

Kali (K)

Bicarbonate (HCO3)

Brom (Br)

Stronti (Sr)

Silicate (SiO2)

Bo (Bo)

19000

10500

2700

1350

400

380

142

65

8.0

6.4

4.6

7.8

6.3

11.2

4.1

15

2.3

58.4

0.02

0.1

13.1

0.1

Tôm rất cần khoáng chất cho quá trình sinh trưởng và phát triển, chúng có thể hấp thu chất khoáng qua thức ăn và môi trường nước.

Trong vài vụ nuôi đầu tiên trong ao nước ngọt chất khoáng trong đất giải phóng ra môi trường, góp phần đảm bảo nồng độ muối khoáng trong nước.

Tuy nhiên, sau đó lượng khoáng này suy giảm và tôm nuôi gặp vấn đề.

Do vậy, bí quyết nuôi thành công tôm nước mặn trong ao nước ngọt là bổ sung đầy đủ, đúng cách các loại khoáng chất cần thiết cho tôm kết hợp với thả tôm với mật độ phù hợp dựa trên trình độ quản lý.

Nhờ nắm được bí quyết này mà trang trại của Chaiwat ở tỉnh Pathumi Thái Lan đã thành công trong suốt 14 năm nay (3 năm đầu nuôi tôm sú, 6 năm tiếp theo nuôi tôm thẻ và cách đây 5 năm quay lại nuôi tôm sú cho đến bây giờ), họ duy trì năng suất ổn định 5 tấn/ha/vụ với tỉ lệ thất bại chưa đến 10%.

Với tôm sú trung bình sau 115 ngày nuôi, tôm đạt 40-50 con/kg, FCR: 1.3

Trang trại được bao quanh bởi ruộng lúa và các vườn trái cây, độ mặn của nguồn nước ở đây chính xác là 0‰.

Hiện trang trại có 31 ao nuôi, diện tích 3.000-4.000 m2/ao. tag: thuoc thuy san

Tổng diện tích của trang trại bao gồm cả ao chứa, ao xử lý, nhà, đường đi là 30 ha.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/bi-quyet-nuoi-thanh-cong-tom-nuoc-man-trong-ao-nuoc-ngot-ly-thuyet-den-thuc-tien-39005.html

Chủ động phòng bệnh tôm nuôi

Để nuôi tôm thành công, người nuôi cần thiết phải thực hiện các biện pháp phòng bệnh trong suốt quá trình nuôi, ngay từ khâu cải tạo ao, sử dụng con giống sạch bệnh đến việc quản lý môi trường nuôi sạch. tag: thuốc thuỷ sản

Chủ động phòng bệnh tôm nuôi

Kinh nghiệm cho thấy “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

Bởi điều trị sau khi bệnh xảy ra là rất khó, do tôm không có hệ miễn dịch đặc hiệu.

Tôm mắc bệnh thường bỏ ăn nên không đưa thuốc vào cơ thể tôm được; đồng thời do tôm sống trong môi trường nước nên khi bị bệnh rất khó phát hiện và khó điều trị.

Thực tế, bệnh trên tôm lây lan qua cả hai con đường từ bố mẹ sang (lây nhiễm theo chiều dọc) và lây nhiễm qua môi trường (qua vật chủ trung gian truyền bệnh, tôm bị bệnh, nước và bùn đáy ao nuôi có mầm bệnh…).

Để chủ động phòng bệnh cho tôm, các hộ nuôi cần áp dụng triệt để một số biện pháp sau:

– Ao nuôi cần được cải tạo tốt theo đúng quy trình để tiêu diệt hết mầm bệnh và vật chủ trung gian truyền bệnh.

Đặc biệt lưu ý đến việc tháo cạn nước phơi khô đáy ao và loại bỏ các loài giáp xác vì chúng có thể là nguồn mang mầm bệnh cho tôm.

Theo kết quả nghiên cứu của nhóm chuyên gia Ấn Độ, virus gây bệnh đốm trắng (WSSV) có thể tồn tại và gây bệnh cho tôm trong điều kiện đáy ao đã được phơi nắng 19 ngày, thậm chí có trường hợp phơi nắng tới 35 ngày, tùy theo lượng WSSV bị nhiễm trong bùn đáy ao nhiều hay ít (Kumar và ctv, 2013).

Do vậy, khuyến cáo phơi khô đáy ao từ 3 tuần tới 1 tháng.

– Cần tuân thủ theo lịch thời vụ thả tôm được địa phương khuyến cáo.

– Tôm giống thả phải đảm bảo sạch (có xuất xứ rõ ràng và có kiểm dịch chất lượng).

– Hệ thống ao nuôi cần có ao chứa, ao lắng và nguồn cấp, thoát nước riêng biệt.

Trong quá trình nuôi cần lựa chọn những con nước tốt để lấy bổ sung cho ao nuôi.

– Cần theo dõi chặt chẽ diễn biến môi trường ao nuôi, thực hiện các biện pháp quản lý môi trường nhằm đảm bảo các yếu tố thủy lý hóa nằm ở mức tối ưu cho sự phát triển của tôm như: độ mặn 10 – 25‰, pH 7,5 – 8,5; độ kiềm 80 – 120 mg/l;

Giảm thiểu khí độc, diệt khuẩn và sử dụng men vi sinh định kỳ kiểm soát mật độ vi khuẩn Vibrio có hại trong ao nuôi.

– Tăng cường sức đề kháng cho tôm bằng cách bổ sung thường xuyên Vitamin C, khoáng chất, chất tăng cường miễn dịch vào thức ăn cho tôm.

Lưu ý: Tuyệt đối không dùng kháng sinh để phòng bệnh cho tôm vì sẽ gây ra hiện tượng kháng thuốc và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm.

– Quản lý chặt chẽ lượng thức ăn cho tôm ăn hàng ngày.

Bởi nếu dư thừa sẽ dẫn tới ô nhiễm môi trường ao tôm, từ đó tạo điều kiện thuận lợi phát sinh dịch bệnh, đặc biệt là bệnh do vi khuẩn gây ra, như: AHPND và làm tăng chi phí sản xuất.

Kinh nghiệm cho thấy, trong tuần đầu mới thả tôm nên cho tôm ăn với liều lượng bằng 25% liều lượng được quy định.

Giai đoạn tôm lớn cần cho tôm ăn làm nhiều lần (6 – 7 lần thay vì 3 – 4 lần như nhà sản xuất khuyến cáo).

– Theo dõi đáy ao trong suốt quá trình nuôi, nếu thấy đáy nhớt và trơn (đối với ao nuôi lót bạt) cần có biện pháp vệ sinh sạch và thay nước.

– Trường hợp phát hiện tôm có dấu hiệu bất thường hoặc chết phải báo ngay với cơ quan chức năng của địa phương, cán bộ thú y địa phương để xác định bệnh tích và có biện pháp xử lý thích hợp;

Đồng thời thông báo cho các hộ nuôi xung quanh biết để chủ động phòng bệnh. tag: thuoc thuy san

Lưu ý: Hộ nuôi tôm không được xả nước từ ao nuôi tôm bệnh ra môi trường bên ngoài mà phải được xử lý bằng Chlorine để tiêu diệt mầm bệnh và chỉ xả nước ra bên ngoài sau ít nhất 15 ngày xử lý hóa chất.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/chu-dong-phong-benh-tom-nuoi-39004.html

Bột côn trùng nguồn chất béo, protein mới lạ cho tôm nuôi

“Rác vào, rác ra” bản in có từ lâu đời trong thế giới máy tính chỉ đúng trong công thức cho ăn: Các thành phần nghèo chất lượng không thể trở thành nguyên liệu có chất lượng tốt, cho dù người ta có cố gắng làm như thế nào đi chăng nữa. tag: thuốc thuỷ sản

Bột côn trùng nguồn chất béo, protein mới lạ cho tôm nuôi

Protein chất lượng rất cần thiết cho sự phát triển lành mạnh của bất kỳ loài thủy sản ăn tạp hoặc ăn thịt. Bột côn trùng dường như cần đáp ứng nhu cầu này để việc sản xuất trên quy mô lớn được bền vững. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng việc đưa côn trùng vào nguồn cung cấp protein toàn cầu sẽ phụ thuộc vào việc thu thập và sử dụng vừa phải dòng thải phụ có chất lượng cao mà hiện tại không được sử dụng cho sản xuất chăn nuôi.

Protein, hàm lượng axit amin

Tiềm năng to lớn của các loài côn trùng như nguồn protein thay thế đã được chứng minh khi so sánh hàm lượng protein của chúng với các nguồn protein thực vật như đậu nành hoặc sản phẩm phụ của động vật như thịt và bột xương. Thật vậy, côn trùng được ví như “protein cô đặc” với hàm lượng protein khác nhau, từ 30 phần trăm trong sâu gỗ đến 82 phần trăm trong một số loài ong bắp cày. Khả năng tiêu hóa của chúng từ 33 phần trăm đến 96 phần trăm trong một số sâu bướm và bướm ấu trùng.

Tương tự như vậy, các thành phần acid amin trong bột côn trùng khác nhau chủ yếu giữa các loài. Giá trị axit amin cao đối với phenylalanine và tyrosine đã được tìm thấy ở một vài loài, và một số côn trùng rất giàu tryptophan, lysine, threonine. Tuy nhiên, theo dữ liệu phân tích cho thấy, đối với côn trùng, tổng số axit amin có lưu huỳnh định ra giới hạn đầu tiên, và khi bột côn trùng được đưa vào chế độ ăn cho thủy sản như nguồn protein chính thì tổng số axit amin chứa lưu huỳnh được hiển thị là axit amin giới hạn đầu tiên.

Lipid, hàm lượng carbohydrate

Ngoài protein, thành phần chính khác trong thành phần dinh dưỡng của côn trùng là chất béo. Phần lớn các phân tích axit béo ở côn trùng chỉ ra rằng hầu hết các nét đặc trưng trùng cấp là khá giống nhau. Nhiều nghiên cứu cho thấy chế độ ăn uống là nhân tố đáng kể đối với polyunsaturation có trong các axit béo ở côn trùng.

Hàm lượng lipid ở côn trùng – có thể đạt 50 phần trăm chất khô- thường được bão hoà, giống như dầu hoặc dầu hướng dương. Triglycerides đại diện cho lượng năng lượng chuyển hóa lớn nhất ở các loài côn trùng. Tương tự như tôm, côn trùng không thể tổng hợp cholesterol de novo.

Điều quan trọng cần phải lưu ý là sự mất cân bằng sterol, đặc biệt là cholesterol, có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng, tần suất lột xác và sống sót của tôm nuôi. Căn cứ vào trọng lượng tươi, hàm lượng cholesterol được công bố ở côn trùng khoảng từ 105 mg / 100 g đối với dế nhà xuống mức thấp 56 mg / 100 g đối với bọ cánh cứng.

Côn trùng cũng có nồng độ cấu trúc carbohydrate thấp: 3-4 phần trăm trong giai đoạn chưa trưởng thành và 15 phần trăm lúc trưởng thành. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ấu trùng được nuôi bằng thức ăn có protein thấp: tỷ lệ carbohydrat đạt được ít, tăng trưởng chậm hơn và lượng protein lưu trữ được ít hơn đáng kể so với các con cho ăn với chế độ ăn cân bằng hoặc giàu protein.

Bột côn trùng trong thức ăn thủy sản

Các nghiên cứu cho thấy rằng nhộng ruồi lính đen dường như là một thành phần thích hợp để thay thế bột cá và dầu cá trong chế độ ăn của cá hồi vân. Ngoài ra, hàm lượng ruồi không làm thay đổi hương vị của cá hồi.

Trong một thử nghiệm cho ăn 12 tuần gần đây đối với cá hồi vân và sử dụng “bột sâu gạo”, một thành phần được sản xuất bằng cách nghiền ấu trùng của bọ cánh cứng nhiệt đới, sâu gạo, đạt được hiệu suất tốt với mức độ bột sâu lên đến khoảng 15 phần trăm. Dữ liệu từ một nghiên cứu với cá da trơn châu Phi được cho ăn châu chấu cho thấy rằng bột côn trùng có thể thay thế bột cá đến 25 phần trăm mà không có bất kỳ ảnh hưởng xấu đến sự phát triển và sử dụng dinh dưỡng.

Trong những năm 1970, các nghiên cứu chỉ ra rằng khi tôm được coi là động vật chân đốt thì ấu trùng được lựa chọn qua các nhộng côn trùng được ưa chuộng hơn con trưởng thành. Kết quả từ cuộc thử nghiệm nuôi các loài tôm để đánh giá giá trị dinh dưỡng của côn trùng hoặc bột côn trùng như một sự thay thế cho bột cá còn hạn chế.

Chuỗi peptit côn trùng được sản xuất bằng quá trình thủy phân ấu trùng ruồi nhà và làm thức ăn cho tôm trắng Thái Bình Dương, Litopenaeus vannamei, dẫn đến tăng trọng lượng cơ thể toàn diện, giảm tỷ lệ chuyển đổi thức ăn và tỷ lệ sống cao. Trong một nghiên cứu gần đây được thực hiện để đánh giá sự thay thế một phần và toàn bộ thức ăn theo công thức ở côn trùng sống (loài Tricho-corixa), trong quá trình nuôi thâm canh L. vannamei., tôm chỉ ăn côn trùng có sự tăng trưởng kém, nhưng không có sự tác động nào trên màu sắc, mùi và hương vị của cơ tôm.

Triển vọng

Việc thực hiện cho các loài thủy sản ăn côn trùng có thể dễ dàng thích nghi trong ngành công nghiệp nuôi trồng thủy sản với một loạt các hệ thống canh tác và hồ chứa nhu cầu dinh dưỡng khác nhau.

Sự an toàn và khả năng sinh sản cũng như sống sót của côn trùng trên các chất thải hữu cơ cần phải được xem xét, nhưng để có tính khả thi về mặt kinh tế, tổng chi phí nuôi dưỡng và chi phí cho cá, tôm ăn côn trùng cần phải thấp hơn so với chi phí cho ăn bằng nguồn protein thông thường như bột cá, động vật hoặc các sản phẩm đậu nành. tag: thuoc thuy san

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/bot-con-trung-nguon-chat-beo-protein-moi-la-cho-tom-nuoi-39019.html