Author Archives: Hải Đăng

Nhận biết và điều trị một số bệnh do ký sinh trùng trên cá.

Bài viết Misganaw K và cộng sự (2016) cung cấp cách nhận biết và một số biện pháp trị ký sinh trùng trên cá.

Theo Chandra KJ (2006), Drug Authority and Control Agency (2006), hơn 45.000 loài được biết đến trong phân ngành giáp xác ký sinh trên cá. Hầu hết có thể được nhìn thấy bằng mắt thường khi bám vào mang, thân và vây của vật chủ. Heckmann R (2003), các nhóm giáp xác ký sinh, đa số là ngoại ký sinh trùng thuộc phân lớp copepod, branchiura, và isopod. Chúng tồn tại với số lượng rất lớn và phân bố trong tất cả các thủy vực nước ngọt, lợ, mặn (Jithendran KP, Natarjan M, Azad IS, 2008).

Dưới đây là một số bệnh do một số loài ký sinh trùng chủ yếu trên cá và cách phòng trị:

1/ Bệnh ký sinh trùng trên cá do giáp xác chân chèo (Ergasilidae (Copepod))

Cấu tạo của Ergasilids biến đổi như đầu biến thành móc bám, chúng ít khi chọn lựa vật chủ ký sinh và thậm chí còn là loài gây bệnh cơ hội (Johnson SC và các cộng sự, 2004).

Dấu hiệu bệnh lý: Ergasilids bám trên mang và tiết ra chất nhờn, gây lỡ loét. Sau đó lan ra ngoài lớp biểu mô, dẫn đến các mạch máu bị tắc nghẽn, do nhiễm trùng kéo dài, có thể kéo dài trên các vùng rộng, giảm chức năng hô hấp của mang (Abowei JFN, Ezekiel EN, 2011). Mang bị tổn thương, làm cá ngạt thở, bỏ ăn hoặc ăn yếu và dẫn đến chết cá (Jithendran KP, Natarjan M, Azad IS, 2008).

Chẩn đoán: Phát hiện Ergasilids bám vào mang cá, bề mặt cơ thể, khoang mũi và quan sát các dấu hiệu bệnh lý (Marquardt WC và cộng sự, 2000).

Điều trị và xử lý: Xử lý bằng cách kết hợp CuSO4 0,5 ppm và FeSO4 2 ppm trong 6-9 ngày. Nước muối 3%, sau đó ngâm kéo dài 0,2% trong 3 tuần. Biện pháp kiểm soát tốt nhất là không đưa cá bị nhiễm vào hồ và ao nuôi (Marquardt WC, Demaree RS, Grieve B, 2000). Tag: may thoi khi

2/ Bệnh do trùng mỏ neo (Lernaeidae (copepod)) ký sinh

Theo Abowei JFN, Ezekiel EN (2011), trùng mỏ neo là ký sinh trùng phổ biến và rất nguy hiểm đối với nhiều loài cá, là loài ký sinh từ cá giống đến cá thương phẩm. Hình dạng ngoài của Lernaea, cơ thể gồm 3 phần: đầu, ngực, bụng. Phần đầu con đực giống hình dạng Cyclops sống tự do, còn con cái sau khi giao phối sống ký sinh hình dạng thay đổi rất lớn. Cơ thể kéo dài, các đốt hợp lại thành ống hơi vặn mình, phần đầu kéo dài thành sừng giống mỏ neo đâm thủng bám chắc vào tổ chức ký chủ nên còn có tên là trùng mỏ neo.

Dấu hiệu bệnh lý: Trùng dùng móc cắm sâu vào thân cá, vào các gốc vây, hốc mắt cá làm thành những vết thương sưng tấy đỏ, chảy máu, cá thường xuyên cọ xát hoặc bơi lội không bình thường. Xung quanh vết thương thường có nấm thủy mi phát triển và vi trùng trong nước có điều kiện xâm nhập làm bệnh thêm trầm trọng. Ký sinh trùng gây thiệt hại nghiêm trọng khi nhiễm nặng (Abowei JFN, Ezekiel EN, 2011).

Chẩn đoán: Có thể nhìn thấy bằng mắt thường và kiểm tra bằng kính hiển vi từ da, mang và vây cá và quan sát các dấu hiệu bệnh lý (Jithendran KP, Natarjan M, Azad IS, 2008).

Điều trị và xử lý: Lernaea cực kỳ khó xử lý vì chỉ ấu trùng sống tự do mới dễ xử lý (Jithendran KP, Natarjan M, Azad IS, 2008). Sử dụng nước muối 1% trong 3 ngày, formalin 250 ppm trong 30 đến 60 phút (Hopla CE, Durden LA, Keirans JE, 1994). Các hóa chất khác như thuốc organophosphate và organ halogen với kali permanganat (KMnO4) (Kabat Z, 1985). Gần đây, thuốc Dimpling (R) (Philips Duper, sản phẩm Hà Lan) đã được tìm thấy có hiệu quả đối với trùng trưởng thành ở nồng độ 0,03-0,05 ppm.

3/ Bệnh do rận cá Argulidae (Branchiura) ký sinh

Rận cá ký sinh trên tất cả giai đoạn của cá gây bệnh làm chết cá hương, cá giống, không làm chết cá thịt, cá bố mẹ, nhưng làm cá bị tổn thương, cơ thể bị suy yếu, tạo điều kiện cho vi trùng và nấm thủy mi phát triển, làm cho bệnh thêm nghiêm trọng.

Dấu hiệu bệnh lý: Rận cá dùng vòi hút máu cá, tiết và tiêm một lượng lớn chất dịch tiêu hóa – đây là chất độc đối với cá, làm cho vết thương trên da bị sưng đỏ, trên thân cá nhiều vết rận đốt sưng tấy đỏ. Sự kích ứng dai dẳng gây ra dẫn đến cá bỏ ăn, và ngừng phát triển, trầy xước hoặc liên tục nhảy lên khỏi nước và bơi thất thường (Kabat Z, 1985). Có thể nhìn thấy ký sinh trùng bằng mắt thường, chiều dài từ vài milimét đến khoảng 30 mm và quan sát bằng kính hiển vi các dấu hiệu bên ngoài như xuất huyết và da loét và mang.

Điều trị và xử lý: Sử dụng các hóa chất thông thường như muối (NaCl), formaldehyde, kali permanganat (2-5 mg/l) và formalin (Carpenter JW, 2005). Cách điều trị hiệu quả nhất chống lại bệnh là sử dụng organophosphates. Organophosphates 2-3 liều trong một tuần, Emamectin benzoate cũng đã được sử dụng để tiêu diệt Argulus (Noaman V, Chelongar Y, Shahmoradi AH, 2010).

4/ Bệnh do isopod ký sinh

Isopoda là loài ký sinh giáp xác lớn nhất được tìm thấy trên cá (dài 20-50 mm). Một số ấu trùng isopod được nhìn thấy trong các khoang và miệng của cá (Heckmann R, 2003). Loại bỏ các ký sinh trùng bằng thủ công và quản lý môi trường tối ưu trong quá trình nuôi. Việc xử lý hóa học cho cá nuôi lồng là không thực tế; Trichlorfon (Dipterex) ở nồng độ 0,5-0,75 ppm trong 24 giờ (Heckmann R, 2003), tuy nhiên hiện nay chất này đã bị cấm theo Bộ Nông nghiệp và PTNT.

Một số khuyến cáo: Phương pháp phòng bệnh ký sinh trùng trên cá:

1. Cải tạo ao trước khi thả nuôi: Dùng vôi sống CaO (10-15 kg/100m2) rải xuống đáy ao và phơi nắng từ 3-7 ngày để diệt trùng, CaO từ 1,5-2,0 kg/m2 khi không thể rút cạn nước trong ao nuôi. Tốt nhất nên có hệ thống lắng, lọc và xử lý nước cấp để hạn chế mầm bệnh.

2. Kiểm tra cá giống (ít nhất 30 mẫu cá) trước khi thả nuôi, nếu phát hiện đàn cá đã nhiễm thì có biện pháp xử lý hoặc loại bỏ đàn cá.

3. Xử lý nước và đáy ao trong quá trình nuôi: Dùng 1-1,5 kg muối ăn và 2 kg vôi/100m3 nước, hoặc định kỳ xử lý nước ao 15-20 ngày/lần bằng các chất khử trùng, hút bùn đáy ao 2 tháng/lần đối với cá < 300g và 1 tháng/lần đối với cá > 300g.

4. Kiểm tra cá trong quá trình nuôi: Định kỳ mỗi tháng mổ khám 30 mẫu cá/lần, đối với cá lớn thì kiểm tra từ 10-15 mẫu/lần. Nếu phát hiện có cá bị nhiễm trong ao thì cần phải cách li đàn cá, khử trùng dụng cụ nuôi.

Ngoài ra, lá xoan trị bệnh trùng mỏ neo và trùng bánh xe rất tốt. Ngâm lá xoan trong nước ao nuôi cá với liều lượng nếu lá non 300g/1m3 nước, bó thành từng bó chắt lại sau thời gian ngâm 5 – 7 ngày tùy thuộc nhiệt độ sau đó nên vớt ra để tránh ô nhiễm ao.

Bằng cách xác định được chính xác nguyên nhân và áp dụng theo một số khuyến cáo nêu trên có thể hạn chế thấp nhất thiệt hại do các bệnh ký sinh trùng giáp xác gây ra.

Citation: Misganaw K, Getu A (2016) Review on Major Parasitic Crustacean in Fish. Fish Aquac J 7:175. doi:10.4172/2150-3508.1000175

Nguồn: 2lua.vn/article/nhan-biet-va-dieu-tri-mot-so-benh-do-ky-sinh-trung-tren-ca-5de480b1425cc56b496ae85c.html

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ.

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng. Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Màu nước ao nuôi tôm nước lợ.

Độ sâu mực nước cần duy trì từ 1,2 – 1,5 m, bờ ao cao hơn mức nước cao nhất 0,5 m. Độ trong có liên quan tới mật độ tảo và giá trị phù hợp từ 30 – 45 cm. Màu nước vàng nâu (màu nước trà) đặc trưng của tảo silic hoặc màu xanh nõn chuối đặc trưng của tảo lục. Mật độ tảo phù hợp tạo thuận lợi cho tôm sinh trưởng tốt. Mật độ quá cao kết hợp độ kiềm thấp dưới 80 mg/l sẽ làm pH biến động lớn trong ngày và ôxy ban đêm < 3 mg/l. Mật độ tảo quá cao dẫn tới hiện tượng nở hoa và gây ô nhiễm môi trường. Mật độ tảo thấp cũng không thuận lợi cho tôm phát triển. Cần duy trì mật độ tảo vừa phải, tương ứng với độ trong từ 30 – 45 cm.

Nếu mật độ tảo cao, thay 20 – 30% nước ao nuôi bằng nước sạch hoặc dùng chế phẩm sinh học diệt tảo (liều lượng theo hướng dẫn ghi trên bao bì sản phẩm), sau đó, đánh men vi sinh để phân hủy xác tảo, xi phông đáy và bổ sung nước mới sạch giúp ổn định môi trường. Nếu mật độ tảo thấp, sử dụng đạm (0,2 – 0,4 kg/1.000 m3) kết hợp lân P2O5 (0,3 – 0,6 kg/1.000 m3) hòa tan tạt đều khắp ao, những ao khó lên màu bón thêm bột zeolite hoặc dolomite liều lượng 7 – 10 kg/1.000 m3.

Độ muối tối ưu cho tôm sú từ 15 – 25 ppt, TTCT 5 – 25 ppt. Để điều chỉnh cần bổ sung nước mới, sạch có độ muối phù hợp. Ôxy hòa tan phải lớn hơn 5 mg/l, thường xuyên quan sát hoạt động của tôm. Ao nuôi thâm canh, cuối vụ phải bật quạt nước thường xuyên, đặc biệt từ 22 giờ đêm đến sáng sớm để tránh thiếu hụt ôxy.

Độ pH: khoảng 7,5 – 8,5, dao động không quá 5 đơn vị trong ngày. Nếu pH thấp dưới 7,5, dùng vôi CaCO3 từ 15 – 20 kg/1.000 m3 nước hoặc vôi Dolomite từ 5 – 7 kg/1.000 m3 nước. Nếu pH cao trên 8,5 dùng đường mật hoặc đường cát 3 – 5 kg/1.000 m3 nước. Lưu ý, khi điều chỉnh độ pH, vôi cần được hòa tan và tạt đều mặt nước, làm 1 lần/ngày và trong 2 – 3 ngày, mỗi lần tạt xong cần kiểm tra lại độ pH để có biện pháp điều chỉnh phù hợp.

Độ kiềm phù hợp từ 80 – 180 mg CaCO3/L, nếu độ kiềm thấp dùng Dolomite từ 5 – 7 kg/1.000 m3 nước hoặc vôi bột từ 20 – 30 kg cho 1.000 m3 nước. Độ kiềm cao có thể dùng đường mật hoặc đường cát với lượng 3 – 5 kg/1.000 m3 nước. Lưu ý, khi tăng hoặc giảm độ kiềm, nên làm từ từ trong 2 – 3 ngày và kiểm tra lại độ kiềm để có biện pháp điều chỉnh phù hợp.Các chất hữu cơ có trong ao nuôi tôm được đánh giá thông qua thông số COD (phù hợp < 10 mg/l) và BOD5 (phù hợp < 5 mg/l). Chỉ tiêu NH4 và PO4 là muối dinh dưỡng cần thiết cho tảo sinh trưởng. NH4 phù hợp từ 0,25 – 0,5 mg/l và PO43- từ 0,2 – 0,3 mg/l.

Các khí độc được hình thành từ sự phân hủy yếm khí (thiếu ôxy) các chất hữu cơ: thức ăn thừa, từ chất thải của tôm… Tiêu chuẩn phù hợp cho tôm nuôi NH3 và H2S <0,1 mg/l và NO2 < 0,25 mg/l. Khi giá trị các thông số nêu trên vượt ngưỡng sẽ ảnh hưởng xấu tới tôm nuôi, cần thay nước mới sạch để giảm nguy cơ ô nhiễm. Tăng cường quạt khí để bổ sung ôxy. Sử dụng một số loại chế phẩm sinh học có tác dụng phân giải các chất hữu cơ và khí độc trong ao, liều lượng theo hướng dẫn trên bao bì sản phẩm. Tag: thiet bi tao oxy

Để đảm bảo môi trường thuận lợi cho tôm sinh trưởng tốt, cần định kỳ kiểm tra giám sát môi trường từ đó có biện pháp xử lý kịp thời. Các thông số kiểm tra hàng ngày gồm: Nhiệt độ nước, độ trong, màu nước, độ pH và ôxy hòa tan. Kiểm tra hàng tuần: độ muối, độ kiềm, COD, BOD5, NH4, PO4, NH3, NO2 và H2S.

Phó Giám đốc Trung tâm Quan trắc Môi trường và Bệnh thủy sản miền Bắc, Viện NC NTTS I

Nguồn: 2lua.vn/article/luu-y-ve-moi-truong-trong-ao-nuoi-tom-nuoc-lo-5dde1682425cc5250919fbf2.html

Nuôi tôm hai giai đoạn kết hợp công nghệ biofloc và UV

Tăng năng suất và lợi nhuận, tiết kiệm được điện, đặc biệt phù hợp với các ao nuôi có diện tích nhỏ.

Biofloc có ưu điểm tái tạo thức ăn thừa làm thức ăn cho tôm nuôi, ít thay nước và hạn chế lây lan mầm bệnh vào hệ thống nuôi, công nghệ biofloc đang được ứng dụng nhiều trong các hệ thống nuôi tôm. Do đó công nghệ Biofloc đã cho thấy hiệu quả của nó rất cao trong giai đoạn gièo tôm. Tuy nhiên, trong giai đoạn nuôi thương phẩm việc vận hành quy trình biofloc gặp rất nhiều khó khăn như việc duy trì mật độ floc, floc tàn do môi trường thay đổi, cần cung cấp nhiều oxy hơn cho hệ thống nuôi. Do đó, điện cũng là vấn đề lớn trong việc vận hành công nghệ này.

Với mục tiêu giảm thiểu rủi ro, cải thiện quy trình nuôi thân thiện với môi trường và tăng thêm thu nhập cho người nuôi. Mô hình được triển khai trên các xã viên của hợp tác xã nuôi tôm công nghệ cao Tân Hưng và được được thực hiện trên diện tích ao nhỏ (dưới 600 m2) và quy mô ao trung bình (600 – 1000 m2) và quy mô ao lớn.

Các thông số môi trường được theo dõi định kỳ 2 lần/ngày như pH, nhiệt độ, DO; 3 ngày/lần đối với TAN, NO2; mật độ tảo , vi khuẩn tổng và vi khuẩn vibrio sp được xác định mỗi tuần/lần.

Quy trình nuôi

1. Ao nuôi

Là ao lót bạt, gồm một ao dèo 200 mét vuông và ao nuôi tôm thịt có diện tích từ 500 đến 1.500 mét vuông, trang bị một máy UV, có hệ thống oxy, hố xi phong và các điều kiện cơ bản khác phục vụ cho nuôi tôm công nghệ cao. Tag: may thoi khi

2. Chăm sóc và quản lý tôm nuôi.

Tiến hành thả tôm vèo giai đoạn 1 từ 21 đến 25 ngày nuôi theo công nghệ Biofloc. Trong giai đoạn 20 ngày tiến hành cấp nước từ ao lắng vào ao nuôi thông qua hệ thống lắng lọc và qua máy UV.

Giai đoạn 1: Nuôi theo quy trình biofloc

Sau khi lắp đặt hệ thống thổi khí cho các bể, sục khí liên tục 24/24h, nước được bơm vào ao ương với mức nước 1m. Tiến hành bón vôi Dolomite, đường mật và thức ăn (bột đậu tương hoặc cám ủ) để tạo tỷ lệ Carbon (C) và Nitơ (N) thích hợp. Giai đoạn 3 ngày đầu trước khi thả giống cần bổ sung 10g/m3 mật rỉ đường, 5 g/m3 thức ăn số 0 và 20 g/m3 vôi Dolomite. Sau khi quan sát thấy xuất hiện Biofloc trong nước thì có thể tiến hành thả giống vào ương. Sau khi thả giống hàng ngày bổ sung bột mì được ủ với vi sinh trong 12h, liều lượng bột mì bằng 70% lượng thức ăn cho tôm trong một ngày hoặc sử dụng mật đường 10g/m3 ủ với men vi sinh trong 24h và bón xuống ao. Trong suốt quá trình nuôi tôm được cho ăn 5 lần/ngày, đáy ao được xiphon sau 10 ngày thả giống.

Giai đoạn 2: Nuôi theo quy trình chảy tràn ứng dụng công nghệ UV

Chuyển tôm nuôi từ ao vèo sang ao nuôi (có thể bằng cách kéo hoặc xả ống), giai đoạn này chuyển sang công nghệ UV.

Sau khi tôm gièo được 21 – 25 ngày (1000 – 1200 con/kg) thì chuyển tôm xuống ao nuôi thương phẩm. Trong giai đoạn này tôm được cho ăn bằng máy cho ăn tự động đến 7h đêm. Đáy ao được xiphon định kỳ 2 lần/ngày vào buổi sáng và chiều tối. Nước trong ao nuôi được thay liên tục 24/24h với hình thức chảy tràn. Nước từ ao lắng hoặc từ vuông nuôi quảng canh (có độ trong 30 cm) được bơm trực tiếp vào ao nuôi thông qua hệ thống khử trùng bằng đèn UV có công suất 40 – 60 m3/h, nước trong ao nuôi sẽ thoát ra bên ngoài thông qua hệ thống ống chảy tràn hoặc bằng máy bơm, sau cho công suất đầu bơm vào bằng với công suất nước được bơm ra. Trong suốt thời gian nuôi thương phẩm, ao nuôi được diệt khuẩn định kỳ bằng iodine, vikon…

Trong quá trình nuôi dùng máy UV đặt trực tiếp vào ao nuôi chạy diệt khuẩn và lọc tảo cho ao nuôi (không dùng diệt khuẩn và vi sinh, chỉ sử dụng khoáng tạt định kỳ). Định kì xi phong đáy ao mỗi ngày, giai đoạn tôm về size lớn xi phong 2 lần trên ngày. Định kỳ sử dụng khoáng tạt, vôi CaCO3.

Kết quả đạt được

Sau hai lần nuôi cho thấy, chất lượng các yếu tố môi trường có xu hướng biến động về cuối vụ nuôi, tuy nhiên chúng vẫn nằm trong khoảng thích hợp cho sự phát triển của tôm. Kết quả nuôi đã cho thấy rằng các yếu tố môi trường ở ao nuôi nhỏ và ao nuôi trung bình tốt hơn trong ao lớn, do lượng nước trong ao được thay tốt hơn 200%/ngày đêm, trong khi đó các ao lớn chỉ thay khoảng 70 – 100% lượng nước/ngày đêm.

Kết quả tương tự cũng cho thấy ở ao nhỏ có mật độ vi khuẩn và mật độ tảo luôn thấp trong suốt vụ nuôi, vì vậy cũng giảm chi phí xử lý thuốc diệt khuẩn. Trong khi đó mật độ tảo và vi khuẩn luôn có xu hướng tăng theo thời gian nuôi.

Kết quả tăng trưởng cho thấy, tôm nuôi bằng công nghệ biofloc trong giai đoạn gièo có kích cở đồng đều hơn so với quy trình chỉ cho ăn đơn thức ăn công nghiệp. Tôm sau 21 ngày nuôi thường đạt 1.000 – 1.200 con/kg. Kết quả nuôi thương phẩm cho thấy, sau 70 ngày ở giai đoạn tiếp theo tôm đạt 40 – 50 con/kg. Kết quả cho thấy trong 30 ngày đầu chuyển giai đoạn xuống ao nuôi thương phẩm tôm có tốc độ tăng trưởng tương đối đồng đều giữa các diện tích ao nuôi và mật độ nuôi. Tuy nhiên, sau 30 ngày nuôi thì sự gia tăng về các yếu tố khí độc và biến động môi trường lớn đối với các ao có diện tích lớn, đã làm tôm chậm lớn do phải tốn một phần năng lượng trong cơ thể để chống lại các biến động ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động sinh lý của tôm. Mặt khác, nuôi tôm trong ao lớn cho thấy tôm dễ bị rủi ro do không tạo vỏ khi lột xác hoặc tôm bỏ ăn khi khí độc lên cao, do những vấn đề trên mà ao lớn trở nên hạn chế khi nâng mật độ nuôi trong lần nuôi thứ 2. Ao lớn chỉ nuôi mật độ tối đa 400 con/m2 trong khi đó ao nhỏ có thể nuôi lên mật độ 600 – 700 con/m2.

Kết quả nuôi cho thấy tỷ lệ sống tôm nuôi dao động 80 – 95%, năng suất tôm nuôi đạt 7 – 10,5 kg/m2, năng suất tôm nuôi có xu hướng gia tăng khi diện tích ao nuôi giảm. Về tỷ suất lợi nhuận cho thấy mô hình nuôi có tỷ suất lợi nhuận 0,5 – 0,7 cao hơn so với CP (0,4). Qua đó, cho thấy giá thành tạo ra 1kg tôm thương phẩm 55.000 – 63.000 đồng, thấp hơn so với quy trình CP (70.000 – 75.000 đồng). Giá thành tạo ra 1kg sản phẩm thấp hơn so với quy trình CP là do trong quá trình nuôi không sử dụng Chlorine, thuốc tím. Mặt khác, do thay nước thường xuyên nên chi phí xử lý vi sinh, bổ sung khoáng chất cho ao nuôi cũng thấp hơn so với CP. Ngoài ra, xét về hiệu quả sử dụng đất quy trình cho thấy tiết kiệm được 50% diện tích cho ao lắng và các hạng mục phụ trợ so với quy trình CP. Bởi vì quy trình chỉ cần 1 ao lắng hoặc vuông quảng canh trong khi đó quy trình CP cần 3 ao lắng.

Kết luận

Qua kết quả quá trình thực hiện cho thấy, nuôi tôm siêu thâm canh ứng dụng quy trình biofloc cho giai đoạn gièo và quy trình chảy tràn theo công nghệ đèn UV cho giai đoạn nuôi thương phẩm đã giúp giảm chi phí vụ nuôi, tăng năng suất và lợi nhuận của vụ nuôi, tiết kiệm diện tích đất, quy trình vận hành đơn giản và tiết kiệm được điện, đặc biệt là trên các ao nuôi có diện tích nhỏ nên quy trình nuôi rất phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.

Trường Cao đẳng Cộng đồng Cà Mau và Huỳnh Xuân Diện, Hợp tác xã nuôi tôm Công nghệ cao Tân Hưng

Nguồn: 2lua.vn/article/nuoi-tom-hai-giai-doan-ket-hop-cong-nghe-biofloc-va-uv-5ddc9bab425cc59f725b24a5.html

Phụ kiện CX140, BK140 và RX lắp ráp quạt guồng

Thân chào Quý bạn đọc,

Ngày 4/10/2019 đánh dấu bước ngoặc mới trong phương pháp lắp đặt quạt guồng trong ao nuôi tôm.

Với sự nỗ lực không ngừng và quá trình nghiên cứu thực nghiệm nghiêm túc, Công ty TNHH Xuất Nhập Khẩu 2 Lúa đã sáng chế và sản xuất thành công bộ phụ kiện 2 Lúa CX140, 2 Lúa BK140 và 2 Lúa RX lắp ráp quạt guồng bằng ống nhựa PVC Φ140.

Mong muốn mang đến giải pháp nuôi tôm hiệu quả, giảm chi phí đầu tư nuôi tôm cũng như giảm chi phí bảo hành, bảo trì vận hành trong quá trình nuôi tôm, bộ phụ kiện được sáng chế tinh tế, đơn giản, chắc chắn và bền bỉ.

Bộ phụ kiện làm khung quạt gồm

– Cùm 2 Lúa CX140: Dùng để đỡ Con lăn RX.

– Cùm 2 Lúa BK140: Dùng để cố định 2 phía đầu khung dàn quạt.

– Con lăn 2 Lúa RX: Con lăn Cao su, giảm ma sát thanh tuýp dàn quạt, tăng độ bền.

Chất liệu sản xuất bộ phụ kiện làm khung quạt

Nhựa PP chất lượng cao

Cao Su lưu hóa

Bulong-Đinh tán: INOX A-270

Đánh giá ban đầu khi lắp ráp

Khi sử dụng bộ phụ kiện 2 Lúa CX1402 Lúa BK140 và Con lăn 2 Lúa RX để làm khung máy quạt nước thời gian lắp ráp nhanh hơn, dễ di chuyển hơn.

Phụ kiện 2 Lúa BK140 được Nhà sản xuất 2 Lúa thiết kế sẵn các lỗ trên mặt đế, bà con có thể bắt cố định bằng Đinh tán hoặc cùm chữ U (Φ34) hoặc buột dây rất tiện lợi.

Nếu bà con đã có sẵn ống nhựa Φ114, bà con vẫn có thể sử dụng bộ phụ kiện trên bằng cách chèn thêm vỏ xe vào.

Mẹo!

– Ống phao mua của BÌNH MINH, ĐẠT HÒA, HOA SEN độ bền khoảng 10-15 năm!

– Bộ Phụ kiện 2 Lúa CX140, 2 Lúa BK140, Con lăn 2 Lúa RX sử dụng nhựa PP tốt 100%; dẻo, bền, chịu va đập mạnh, bề mặt bóng mượt nên hạn chế bám rong; Bulong-Đinh tán lựa chọn Inox 304 độ bền được khoảng 10 năm!

– Không bị rò rỉ nước vào ống, chịu được nhiệt độ cao…

– Độ dài phao tuỳ theo kích thước ao nuôi/số lượng cánh quạt mà bà con có thể cắt dài hay ngắn.

Khung phao PVC
Lắp ráp khung phao
Khung quạt guồng
Lắp ráp khung quạt guồng
Lắp ráp quạt guồng
Lắp ráp dàn quạt sử dụng Con lăn 2 Lúa RX
Làm dàn quạt nuôi tôm
Lắp ráp dàn quạt sử dụng Con lăn tăng đưa
Làm dàn phao máy cho tôm ăn
Lắp ráp dàn phao máy cho tôm ăn

Đất cằn thì trồng na.

Dọc con đường đến UBND xã Bồ Lý, huyện miền núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc) chúng tôi bắt gặp nhiều hộ ở lưng chừng đồi, có vườn cây ăn quả tươi tốt.

Chăm sóc na.

Nhà nào cũng có vườn rộng. Lối đi giữa, hai bên là vườn mít, ổi, thanh long… Nhưng phổ biến nhất, là na. Các vườn na ở đây, 100% là giống na dai. Rẽ vào thăm ông Nguyễn Văn Nghĩa, thôn Tân Lập, hai bên lối đi, là vườn cây ăn quả. Ông Nghĩa cho biết, gia đình vừa thu một lứa quả, thương lái đến tận nơi “cất hàng”. Mỗi ngày đều đặn hái quả 2 lần. Thu hái đến đâu, thương lái vào mua đến đấy.

Bà con ở đây cho biết, thôn nào cũng trồng na. Nhưng nhiều nhất, tập trung nhất, là ở 2 thôn Ngọc Thụ (Khu 8) và thôn Trại Mái (Khu 9). Hai thôn này có khoảng 70 ha trồng na và 100% là na dai. Na dai ở đây quả to vừa phải, nhưng ăn ngọt mát, vị thơm đặc biệt.

Tìm vào nhà ông Nguyễn Văn Tuyến – Trưởng thôn Trại Mái – chúng tôi thấy một vườn na sai quả. Ông Tuyến cho biết, dân ở đây có thói quen thu hái na ngày 3 lần. Sáng sớm thu lần 1. Đến khoảng 9 giờ thu lần 2. Chiều khoảng 3 giờ thu lần 3. Họ thu na theo cách chín tự nhiên, nên không để lâu ngày. Không như các vùng na khác “hãm” na lâu chín. Bởi vậy, na ở đây được coi là “na sạch” không dùng bất cứ thứ hóa chất gì.

Ông Tuyến cũng cho biết, các thương lái đều đăng ký từng nhà, và đến từng nhà thu mua. Tùy theo thời gian, giá na dao động từ 30 đến 50 ngàn đồng/kg. Trung bình mỗi hộ trong thôn có 3 sào trồng na. Mỗi cây na cho từ 10 đến 20 kg/vụ. Thu hoạch rầm rộ nhất là từ cuối tháng 6 đến hết tháng 7. Thu hoạch theo kiểu chín đến đâu, thu hái đến đó. Tag: thiết bị sục khí

Các thôn từ ngày có cây na dai, đời sống khấm khá hẳn lên. Cây na cho thu nhập ổn định, không lo đầu ra. Chỉ có điều nên phát triển như thế nào. Những nhà có diện tích bình thường (từ 3 đến 5 sào) mỗi năm thu nhập cũng hàng trăm triệu đồng. Không ít nhà có diện tích từ 1 đến 2 mẫu (10 sào/mẫu) thì thu nhập phải cỡ tiền tỷ.

Hiện ở thôn Trại Mái, có gần 190 hộ và thôn Ngọc Thụ có trên 200 hộ trồng na. Đời sống rất ổn định, thu nhập khá. UBND xã Bồ Lý đang có kế hoạch hình thành một vùng na giai tập trung và xây dựng quả na dai Bồ Lý thành thương hiệu, được công nhận là loại quả đặc sản của địa phương.

Nguồn: 2lua.vn/article/dat-can-thi-trong-na-5d7b03cb425cc50840853324.html