Author Archives: Nhật Trung

Bổ sung mật rỉ đường trong ương nuôi ấu trùng tôm sú

Nghiên cứu nhằm tìm ra thời điểm bổ sung carbohydrate từ rỉ đường thích hợp nhất lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng và hậu ấu trùng tôm sú. tag: máy thổi khí

Mật rỉ đường – Ảnh: Oh My Veggies

Để làm cơ sở cho xây dựng qui trình sản xuất giống tôm sú theo công nghệ biofloc, việc xác định thời điểm bổ sung nguồn carbohydrate là rất cần thiết. Chính vì thế nghiên cứu : “Ương ấu trùng tôm sú bằng công nghệ biofloc từ nguồn carbohydrate rỉ đường theo giai đoạn ấu trùng và hậu ấu trùng tôm” được thực hiện nhằm đánh giá tăng trưởng và tỷ lệ sống của hậu ấu trùng tôm sú.

Bổ sung mật rỉ đường trong ương nuôi ấu trùng tôm sú

Biofloc được tạo bằng nguồn carbohydrate từ rỉ đường có hàm lượng C là 46,7%. Rỉ đường được hòa vào nước theo tỷ lệ 1 rỉ đường, 3 nước rồi ủ 48 giờ sau đó bổ sung trực tiếp vào bể ương. Lượng rỉ đường được bổ sung 3 ngày một lần được tính theo tỷ lệ C/N trong thức ăn để bổ sung, tùy vào lượng thức ăn sử dụng cho tôm ăn mà thêm lượng rỉ đường để đạt được tỷ lệ C/N = 25. Lượng rỉ đường cần bổ sung vào bể để tạo biofloc được tính dựa theo công thức có cải tiến của Lục Minh Diệp (2012). tag: may thoi khi

∆N = WTA x %PrTA X 0,08

∆C = 25 X ∆N 

∆CH= ∆C : 50%

Trong đó, ∆N: Lượng nitơ có trong thức ăn; ∆C: Carbon cần bổ sung; ∆CH: Lượng carbohydrate cần bổ sung; WTA Lượng thức ăn cho ăn hàng ngày; %PrTA: Protein trong thức; 0,08: Là (lượng Nito có trong thức ăn (16%), (%N) thải ra (50%); 25: Tỷ lệ C:N cần cung cấp là 25:1; 50%: Tỷ lệ carbon trong carbohydrate bổ sung.

Bố trí thí nghiệm Thí nghiệm gồm 4 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần, cách bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên. Bể ương có thể tích 500 L, độ mặn 30‰. Mật độ ương ấu trùng 150 con/L.

+ Nghiệm thức 1: Bổ sung mật rỉ đường ở giai đoạn Mysis-1

+ Nghiệm thức 2: Bổ sung mật rỉ đường ở giai đoạn Mysis-3

+ Nghiệm thức 3: Bổ sung mật rỉ đường ở giai đoạn Postlarve-2

+ Nghiệm thức 4: Bổ sung mật rỉ đường ở giai đoạn Postlarve-4

Chăm sóc ấu trùng và hậu ấu trùng

Khi ấu trùng Nauplius chuyển sang ấu trùng Zoea-1 thì cho ăn tảo tươi Chaetoceros sp với mật độ 60.000–120.000 tế bào/ml kết hợp thức ăn nhân tạo (50% Lansy ZL + 50% Frippak-1) với lượng 1– 2 g/m3/ngày.

Giai đoạn ấu trùng Mysis cho tôm ăn thức ăn nhân tạo (50% Lansy ZL + 50% Frippak-2) với lượng thức ăn là 3-4 g/m3/ngày và Artemia bung dù 2 g/m3/lần.

Đến giai đoạn tôm PL-1-PL-6 cho tôm ăn thức ăn Frippak-150, từ PL-7-PL-15 cho ăn Lansy PL từ 2-6 g/m3/lần, Artemia mới nở 4 g/m3/lần (Châu Tài Tảo, 2013).

Trong suốt quá trình ương, không thay nước, chỉ cấp thêm nước hao hụt do siphon.

Các chỉ tiêu như các thông số môi trường nước, chiều dài tổng của các giai đoạn, tỉ lệ sống, năng suất, chất lượng ấu trùng tôm PL15 được kiểm tra.

Kết quả và đề xuất

Các yếu tố môi trường, mật độ vi khuẩn và chỉ tiêu biofloc của các nghiệm thức nằm trong khoảng thích hợp cho tôm sinh trưởng và phát triển tốt từ giai đoạn Mysis 3 đến PL2.

Tăng trưởng về chiều dài, tỷ lệ sống và năng suất của tôm ở giai đoạn PL-15 lớn nhất ở nghiệm thức bổ sung rỉ đường từ giai đoạn Mysis-3. Chất lượng tôm PL-15 ở tất cả các nghiệm thức trong thí nghiệm đạt chất lượng tốt và sạch bệnh đốm trắng, bệnh EMS/AHPND, bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan lập biểu mô (IHHNV).

Nếu ương ấu trùng tôm sú có bổ sung rỉ đường từ giai đoạn Mysis-3 thì tôm PL-15 có tăng trưởng, tỷ lệ sống và năng suất cao nhất do đó công nghệ biofloc có thể được ứng dụng để ương giống tôm sú từ giai đoạn Mysis-3 vào trong thực tế sản xuất giống. tag: máy thổi khí chất lượng cao

Tác giả nghiên cứu: Châu Tài Tảo, Lý Văn Khánh và Trần Ngọc Hải của Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ. Báo cáo được đăng trên Tạp Chí Khoa Học Trường Đại Học Cần Thơ.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/bo-sung-mat-ri-duong-trong-uong-nuoi-au-trung-tom-su-5de47cac425cc59b426ae85f.html

Ngăn ngừa mầm bệnh trong trại sản xuất giống

Cơ sở vật chất

Xây dựng trại giống phải đạt tiêu chuẩn kỹ thuật. Khi quy hoạch các khu sản xuất giống phải khảo sát chọn lựa địa điểm nuôi phù hợp, thuận lợi, trong đó nguyên tắc quan trọng nhất là không bị các hoạt động sản xuất của khu vực xung quanh gây cản trở hoặc làm ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, các yếu tố khác cũng phải phù hợp như chất lượng nước, độ pH, độ mặn, tính chất của đất. tag: máy thổi khí

Nâng cao chất lượng tôm bố mẹ

Tất cả tôm giống bố mẹ được nhập về từ trang trại nuôi phải qua khu vực cách ly và được kiểm tra hết sức cẩn thận để ngăn chặn sự xâm nhập của tôm nhiễm bệnh vào khu vực nuôi thành thục sinh sản. Khi đã có kết quả, các con tôm bố mẹ được chia theo lô và phân phối đến các bể. Lời khuyên cho các trang trại sản xuất giống là nên lưu trữ các dữ liệu về chu kỳ sản xuất của mỗi lô tôm bố mẹ, từ đó có thể xác định được lô nào cho sản lượng trứng và ấu trùng tốt.

Trong quá trình nuôi, các thông số quan trọng nhất được duy trì trong khu vực này, trong đó nhiệt độ nước 28 – 340C, có sục khí mạnh ở giữa bể. Nước phải được thay hàng ngày để tạo và duy trì một môi trường thuận lợi cho sinh sản, trong điều kiện ánh sáng yếu, và trên hết là tránh ồn ào bởi nó có thể tác động không tốt đến tôm bố mẹ.

Hàng ngày, sử dụng đèn để kiểm qua sự xuất hiện của trứng và quan sát mức độ phát triển của tuyến sinh dục. Dùng vợt bắt nhẹ nhàng những con cái được chọn, sau đó xử lý một cách cẩn thận.

Thực hiện an toàn sinh học

Tất cả các dụng cụ được sử dụng (bể, thùng, pipet) phải được vệ sinh sạch sẽ bằng nước ngọt và được xử lý bằng chlorine ít nhất một lần/tuần.

Trên mỗi bể ương, cần được che chắn bằng bạt (tối nhất là loại geomembrane). Sau mỗi đợt sản xuất, cần vệ sinh sạch sẽ.

Tối thiểu 2 lần/tuần gửi mẫu ấu trùng tôm đến phòng thí nghiệm bệnh học để xét nghiệm. Nếu phát hiện mầm bệnh, các nhà sinh học cần có biện pháp xử lý đối với bể bị nhiễm, bể đó có thể được giữ lại hay cần loại bỏ ngay.

Đảm bảo chất lượng nước

Khi đã xác định được cụ thể ngày thả nuôi thì nước sẽ phải xử lý trước, nhiệt độ được quy định là 290C và hệ thống sục khí được kiểm tra nhằm đảm bảo hàm lượng ôxy hòa tan được duy trì ở mức tối ưu.

Lưu ý tránh việc có quá nhiều chất hữu cơ trong bể nuôi vì điều này có thể thúc đẩy sự phát triển của các loài nguyên sinh động vật, chúng bám vào mang tôm và cản trở quá trình hô hấp của tôm. Nếu vi tảo rơi xuống đáy bể và hình thành các bong bóng thì có thể tôm sẽ bị dính vào đó; quá trình lột xác có thể bị chậm lại ở các ấu trùng yếu và không ăn.

Trong quá trình sống và phát triển ấu trùng sẽ thải phân và vỏ (do lột xác) làm dơ bẩn nước nuôi. Vì vậy muốn giữ ổn định môi trường nuôi, hàng ngày phải tiến hành vệ sinh, thay nước.

Xi phông đáy: Giảm nhẹ sục khí, dùng ống xi phông hút ra toàn bộ đáy bể, loại bỏ hết cặn bã, thức ăn dư thừa, vỏ và xác ấu trùng chết ra ngoài qua vợt. tag: may thoi khi

Thay nước: Dùng dụng cụ thay nước hút nước ra ngoài đến mức cần thay, sau đó cấp nước mới có cùng điều kiện thủy lý, hóa vào (để tránh xảy ra sự thay đổi đột ngột về môi trường).

Ngăn chặn mầm bệnh vào thức ăn tươi sống

Nhiều loài vi tảo hiện vẫn là nguồn thức ăn tươi sống không thể thiếu đối với ấu trùng tôm, thường được nuôi trong nước biển tự nhiên đã qua xử lý, có bổ sung thêm các dưỡng chất như: nitrat, phosphat, các nguyên tố vi lượng thiết yếu, vitamin và khí cacbonic. Chúng thường được nuôi tại chỗ trong những điều kiện thiếu kiểm soát. Đây là nơi các vi khuẩn gây bệnh có thể sinh sôi, phát triển do mức độ tập trung cao của các chất hữu cơ trong môi trường nuôi. Do vậy, tảo có thể là nơi trú ẩn của các vi khuẩn gây bệnh. Vì vậy, cần có biện pháp để ngăn chặn sự xâm nhập của các tác nhân gây ô nhiễm vào khu vực như thực hiện các quy trình khử trùng cá nhân và quần áo của người xử lý mặc được tiệt trùng hàng ngày. Làm sạch tất cả các thiết bị thủy tinh. Các thùng chứa được làm sạch và khử trùng bằng xà phòng trung tính và acid loãng, sau đó các dụng cụ này được để khô và được khử trùng dưới áp suất và nhiệt độ cao.

Với thể tích nuôi cấy lớn hơn, nên tăng mức độ chiếu sáng và sục khí môi trường nuôi bằng hỗn hợp không khí hoặc khí carbonic. Việc pha loãng độ mặn của môi trường (khoảng 20 – 25‰) để nuôi các loài tảo silic giúp đạt được tốc độ phát triển tốt nhất.

Có phòng thí nghiệm sinh học

Những năm qua, có rất nhiều bệnh là nguyên nhân chính dẫn đến ấu trùng tôm chết với số lượng lớn, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho người sản xuất, có những lúc trại giống phải xả bỏ hết tôm ở các bể khi sự tồn tại của mầm bệnh được khẳng định. Đó là lý do tại sao các cơ sở sản xuất giống phải có một phòng thí nghiệm sinh học thích hợp để phát hiện sự có mặt của các virus gây bệnh, các vi sinh vật kí sinh nội bào, vi khuẩn, nấm, các nguyên sinh động vật nội và ngoại ký sinh, các sinh vật sống cộng sinh gây bệnh, các loại độc tố và nhiều yếu tố khác.

Cần có một bộ phận thực hiện việc lấy mẫu hàng ngày ở tất cả các giai đoạn phát triển của ấu trùng. Nhờ vậy, có thể nhanh chóng xác định được sự hiện diện của các mầm bệnh nhằm, từ đó thực hiện các hành động thích hợp khi mà yếu tố thời gian có thể quyết định sự sống hoặc chết của ấu trùng tôm. tag: máy thổi khí chất lượng cao

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ngan-ngua-mam-benh-trong-trai-san-xuat-giong-5b754030425cc587287d5c6a.html

Xử lý phèn trong nuôi tôm

Nguyên nhân đất phèn

Quá trình hình thành đất phèn là do các chất hữu cơ bị tích tụ phân huỷ trong điều kiện yếm khí có các tập đoàn vi khuẩn khử sunfua, chúng chuyển hoá các hợp chất lưu huỳnh (trong thực vật, trong đất, trong nước biển) thành dạng khí sunfua hydro (H2S), khí này thâm nhập vào nước ngầm và kết hợp với sắt (II) tạo thành sắt sunfua và tiếp tục chuyển hoá thành sắt bisunfua (pyrit, FeS2) dạng tinh thể với phản ứng sau:

2CH2O (hữu cơ) + SO42-  →  H2S + 2HCO3-

Fe(OH)2 + H2S           →    FeS + H2O

FeS + S          →    FeS2 (pyrit)

Việc rút nước quá cạn hay vào mùa khô hạn sẽ làm cho đất nứt nẻ, không khí theo các đường nứt này di chuyển xuống dưới tầng đất có chứa phèn tiềm tàng, do trong không khí có ôxy nên khi được tiếp  xúc với không khí sẽ xảy ra quá trình oxy hoá pyrit và sinh ra axit sunfuaric:

4FeS2 (pyrit) + 15O2 + 14H2O → 4Fe(OH)3  + 8SO42- + 16H+

Ảnh hưởng

Tôm bị mềm vỏ kéo dài. Ao bị nhiễm phèn lượng canxi và khoáng chất cần thiết cho quá trình tạo vỏ luôn bị thiếu hụt. Vì vậy việc bổ sung vôi vào những ao bị phèn cần một lượng rất lớn và hợp chất tạo thành là thạch cao không có lợi nhiều cho ao nuôi. tag: máy thổi khí

Tôm lột xác không hoàn toàn dẫn đến tỷ lệ sống rất thấp.

Tôm chậm lớn, màu sắc kém. Trong môi trường ao nuôi bị nhiễm phèn, pH thấp sẽ có tốc độ tăng trưởng chậm hơn so với các ao khác không nhiễm phèn, sắc tố kém… quá trình hô hấp với tần suất cao làm tôm tiêu hao năng lượng lớn, các hoạt động của enzyme ngừng trệ, hấp thu khoáng chất kém dẫn đến khả năng tăng trưởng của vật nuôi bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Ảnh hưởng đến quá trình hô hấp. Tôm sống trong vùng đất nhiễm phèn thì quá trình hô hấp tăng cao vì khả năng gắn kết giữa ôxy và hemoglobin giảm do đó sẽ tiêu hao nhiều năng lượng cho quá trình hô hấp, giảm sức tăng trưởng, sinh sản…

Nồng độ pH thấp làm cho lượng khí H2S trở nên độc hơn gây ức chế cho quá trình trao đổi chất và chuyển hóa ôxy của tôm nuôi làm cho tôm nuôi chậm lớn, màu sắc kém mất giá.

Khi ao nhiễm phèn pH thấp thì các ion như Fe2+, Al3+ sẽ kết hợp với phốt pho (có trong phân lân) tạo thành hợp chất khó tan, hạn chế dinh dưỡng cho tảo phát triển gây nên hiện tượng khó gây màu nước ao nuôi.

Giải pháp

Không nên phơi khô nền đáy ao quá lâu đối với ao nhiễm phèn tiềm tàng. Các vết nứt trên nền đáy ao tạo điều kiện cho ôxy vào và ôxy hóa pyrit sắt. Khi cấp nước vào sẽ giải phóng hợp chất này ra khiến cho việc xử lý trở nên khó hơn. Tốt nhất là nên cải tạo ướt, xổ xả liên tục. Nếu có cày đáy ao thì cày ướt và ngâm nước liền. Nếu phơi nền đáy ao thì chỉ phơi khô đến nứt chân chim. tag: may thoi khi

Bón vôi đáy ao: nhằm mục đích nâng pH đáy, khử phèn và tạo hệ đệm cho đáy. Nên bón vôi vào buổi chiều mát và cấp nước vào sáng ngày hôm sau. Không nên phơi đáy ao quá lâu.

Đối với những ao nuôi có đất bị nhiễm phèn, khi cải tạo cần dùng giấy quỳ để kiểm tra pH của đáy ao hoặc nhai trầu rồi nhổ xuống bùn đáy ao, nếu nước trầu vẫn đỏ tươi chứng tỏ pH trong ngưỡng phù hợp (7 – 8); nếu nước trầu chuyển từ màu đỏ sang màu thẫm hoặc tím chứng tỏ nền đáy bị xì phèn cần tăng lượng vôi nông nghiệp CaO bón xuống ao, liều lượng 15 – 18 kg/100 m2.

Cần dùng bạt phủ kín và từ đáy ao lên mặt bờ xung quanh ngăn không cho nước mưa thấm qua bờ tràn xuống, hoặc đắp gờ đất ngăn không cho nước mưa chảy trực tiếp xuống ao. Sau khi trời mưa, cần nhấc cánh phai phía trên của cống thoát để tháo bớt lượng nước ở tầng mặt tránh sốc pH cho tôm, cá.

Đầm nén bờ chắc chắn và giữ mực nước ao cân bằng với mương nước hoặc ao xung quanh, tránh mực nước thấp, xì phèn sẽ rò rỉ, thẩm lậu theo nước vào ao. Trong quá trình nuôi, sử dụng vôi bột hoặc vôi tôi hòa loãng với nước té đều xuống ao, liều lượng 0,5 – 10 kg/1.000 m2, định kỳ 20 ngày/lần, trước khi trời mưa nên rải vôi quanh bờ ao với liều lượng 10 kg/1.000 m2. Thường xuyên dùng hộp giấy quỳ đo pH của nước, mức thích hợp cho tôm cá sinh trưởng và phát triển 6,5 – 7,5, nếu thấp hơn ngưỡng cho phép thì phải té vôi ngay liều lượng 1 – 2 kg/100 m2.

Ở những ao bị xì phèn, nước có độ trong cao, ao nghèo dinh dưỡng, tảo không phát triển. Vì vậy, nên thay nước cũ thêm nước mới vào hoặc dùng vôi Dolomite liều lượng 20 – 30 kg/1.600 m2, bón 2 ngày 1 lần, trong vòng 20 ngày đầu để gây và giữ màu nước cho ao nuôi.

Đối với ao nuôi tôm, khi pH hạ thấp ngoài dùng vôi, người nuôi còn có thể sử dụng sản phẩm Sitto Thio 5.000, liều lượng 1 lít/300 m3 nước và kết hợp thêm Zeolite 10 kg/1.000 m3 nước để ổn định môi trường nước. tag: máy thổi khí chất lượng cao

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/xu-ly-phen-trong-nuoi-tom-5b7540ba425cc528257d5c6c.html

Phụ kiện CX140, BK140 và RX lắp ráp quạt guồng

Thân chào Quý bạn đọc,

Ngày 4/10/2019 đánh dấu bước ngoặc mới trong phương pháp lắp đặt quạt guồng trong ao nuôi tôm.

Với sự nỗ lực không ngừng và quá trình nghiên cứu thực nghiệm nghiêm túc, Công ty TNHH Xuất Nhập Khẩu 2 Lúa đã sáng chế và sản xuất thành công bộ phụ kiện 2 Lúa CX140, 2 Lúa BK140 và 2 Lúa RX lắp ráp quạt guồng bằng ống nhựa PVC Φ140.

Mong muốn mang đến giải pháp nuôi tôm hiệu quả, giảm chi phí đầu tư nuôi tôm cũng như giảm chi phí bảo hành, bảo trì vận hành trong quá trình nuôi tôm, bộ phụ kiện được sáng chế tinh tế, đơn giản, chắc chắn và bền bỉ.

Bộ phụ kiện làm khung quạt gồm

– Cùm 2 Lúa CX140: Dùng để đỡ Con lăn RX.

– Cùm 2 Lúa BK140: Dùng để cố định 2 phía đầu khung dàn quạt.

– Con lăn 2 Lúa RX: Con lăn Cao su, giảm ma sát thanh tuýp dàn quạt, tăng độ bền.

Chất liệu sản xuất bộ phụ kiện làm khung quạt

Nhựa PP chất lượng cao

Cao Su lưu hóa

Bulong-Đinh tán: INOX A-270

Đánh giá ban đầu khi lắp ráp

Khi sử dụng bộ phụ kiện 2 Lúa CX1402 Lúa BK140 và Con lăn 2 Lúa RX để làm khung máy quạt nước thời gian lắp ráp nhanh hơn, dễ di chuyển hơn.

Phụ kiện 2 Lúa BK140 được Nhà sản xuất 2 Lúa thiết kế sẵn các lỗ trên mặt đế, bà con có thể bắt cố định bằng Đinh tán hoặc cùm chữ U (Φ34) hoặc buột dây rất tiện lợi.

Nếu bà con đã có sẵn ống nhựa Φ114, bà con vẫn có thể sử dụng bộ phụ kiện trên bằng cách chèn thêm vỏ xe vào.

Mẹo!

– Ống phao mua của BÌNH MINH, ĐẠT HÒA, HOA SEN độ bền khoảng 10-15 năm!

– Bộ Phụ kiện 2 Lúa CX140, 2 Lúa BK140, Con lăn 2 Lúa RX sử dụng nhựa PP tốt 100%; dẻo, bền, chịu va đập mạnh, bề mặt bóng mượt nên hạn chế bám rong; Bulong-Đinh tán lựa chọn Inox 304 độ bền được khoảng 10 năm!

– Không bị rò rỉ nước vào ống, chịu được nhiệt độ cao…

– Độ dài phao tuỳ theo kích thước ao nuôi/số lượng cánh quạt mà bà con có thể cắt dài hay ngắn.

Lắp ráp khung phao

Lắp ráp khung quạt guồng

Lắp ráp dàn quạt sử dụng Con lăn 2 Lúa RX

Lắp ráp dàn quạt sử dụng Con lăn tăng đưa

Lắp ráp dàn phao máy cho tôm ăn

 

Lưu ý khi nuôi tôm ở độ mặn thấp

So với tôm sú thì tôm thẻ chân trắng (TTCT) là đối tượng nuôi ở độ mặn thấp phù hợp hơn, bởi TTCT chịu đựng độ mặn thấp tốt hơn tôm sú; ngoài ra TTCT còn sinh trưởng nhanh hơn, thời gian nuôi ngắn và nuôi được ở mật độ cao. Khi nuôi TTCT ở độ mặn thấp chỉ nên thả mật độ vừa phải (80 – 100 con/m2). tag: máy thổi khí

Hạ độ mặn

Thường tôm được sản xuất từ trại giống nước có độ mặn trên 20‰. Do vậy, khi mua giống về cần hạ độ mặn tại trại giống xuống từ từ để tránh gây sốc cho tôm (3 giờ hạ một lần, mỗi lần hạ không quá 2‰). Trong tháng nuôi đầu tiên, độ mặn thả nuôi không nên thấp hơn 7 – 8‰ nhằm giảm tối đa việc gây sốc tôm.

Tháng thứ 2, nên châm thêm nước ngọt vào ao để hạ độ mặn ao nuôi xuống dần nhưng không dưới 5‰.

Không nên trực tiếp lấy nước từ kênh mương vào ao nuôi. Người nuôi cần chuẩn bị ao lắng diện tích chiếm 15 – 20% và độ sâu tối thiểu 1,5 mét, để có đủ nước cấp cho ao nuôi. Nước phải để lắng và được xử lý ít nhất 6 ngày trước khi cấp vào ao nuôi.

Nước ở tầng đáy trong ao nuôi cần thải bớt ra ngoài khi màu nước ao nuôi trở nên đậm đặc. Trong giai đoạn tôm giống P12 cỡ 15g, nếu độ mặn thấp hơn 5‰ thì tôm dễ bị còi cọc, mềm vỏ, tỷ lệ sống thấp.

Sử dụng chế phẩm sinh học hợp lý khi nuôi tôm ở độ mặn thấp

Quản lý tảo

Từ tháng thứ 2 trở đi, khi hàm lượng dinh dưỡng trong ao lớn, cần lưu ý sự phát triển của tảo, nhất là tảo lam (Cyanophyta).

Khi tảo phát triển quá mức làm nước trở nên xanh đậm đặc hoặc có váng xanh trên mặt nước sẽ nâng pH lên cao và biến động lớn, vậy cần kiểm soát mật độ tảo trong ao vừa phải bằng cách thay bớt nước tầng đáy (tháo qua cánh phai của cống thoát) và châm thêm nước mới (mỗi lầng 7 – 10%) từ ao lắng.

Giá trị pH trong ngày chỉ nên 7,8 – 8,3, thấp vào buổi sáng, cao vào buổi chiều; độ kiềm cũng không nên vượt quá 150 mg/l, vì nếu pH và độ kiềm vượt ngưỡng thì ion Ca++ sẽ tích lũy nhiều trong vỏ làm cho tôm còi cọc và khó lột xác. Nên sử dụng vôi Dolomite hoặc Ca(OH)2 để tăng pH khi trời mưa, pH xuống thấp.

Quản lý, chăm sóc

Trong quá trình nuôi, đặc biệt với TTCT, do độ mặn thấp, trong nước các ion Ca++, Mg++, Na+, K+… sẽ thấp nên quá trình lột xác xảy ra không đồng đều, tôm sẽ bị mềm vỏ sau khi lột xác, dễ bị tôm khác tấn công, ăn thịt, tỷ lệ hao hụt cao. Vậy cần bổ sung định kỳ hàm lượng khoáng vào ao nuôi và trộn vitamintrong thức ăn của tôm với liều lượng 60 mg/kg thức ăn cho ăn hằng ngày.

Nên sử dụng men tiêu hóa trong toàn vụ nuôi, cần chú trọng cho ăn men tiêu hóa có chứa thêm enzyme Phytase, vì với Phytase nó có thể giúp việc tiêu thụ thức ăn tốt hơn, ít ô nhiễm môi trường hơn và giảm được chi phí.

Ao nuôi ở độ mặn thấp, nước ao thường dễ bị đục sau khi thả tôm hoặc sau khi thay nước, làm cho tôm bị sẫm màu hoặc đỏ thau vào buổi sáng. Do vậy người nuôi cần phải xử lý sớm khi ao bị mất màu và trước khi tôm bỏ ăn.

Để giảm độ đục, nên tắt máy quạt nước vào ban ngày để lắng bớt chất gây đục nước và cho tảo nổi lên, sau đó tháo bớt nước đáy ao để loại bỏ chất lắng đọng. tag: may thoi khi

Nếu sau khi tắt máy quạt, nước để lắng rồi tháo đáy mà vẫn còn đục thì phải can thiệp thêm chất keo tụ (như zeolite và yucca) để kết tủa huyền phù, rồi xả đáy, sau đó châm nước mới vào ao.

Khí độc trong ao

Sang tháng nuôi thứ 2, lượng chất thải tôm bắt đầu tăng cao; quá trình bài tiết của tôm và phân hủy mùn bã hữu cơ sẽ sinh ra nhiều khí độc trong ao nuôi (như H2S, NH3, NO2…) gây độc cho tôm. Do vậy cần phải xiphông và thay nước tầng đáy, đồng thời bón chế phẩm vi sinh để chuyển hóa khí độc, tạo điều kiện cho tôm phát triển tốt.

TTCT được nuôi ở độ mặn thấp (5 – 15‰) sẽ tăng trưởng nhanh hơn ở độ mặn cao.

Đó là do ở độ mặn thấp sự trao đổi chất (protein) trong cơ thể tôm tốt hơn và khi độ mặn thấp thì tôm bị bắt buộc sử dụng tổng acid amin tự do (free amino acid pool) để bù vào sự thay đổi thể tích tế bào.

Hiện nay, nhiều hộ nuôi đã sử dụng nước ngọt từ giếng khoan để pha làm giảm độ mặn.

Nước giếng khoan có hàm lượng DO thấp và ion Mn, Fe cao (thường ở dạng khử). Nếu sử dụng pha trực tiếp vào ao tôm thì kết tủa của các muối kim loại  sẽ bám vào mang tôm, gây stress hoặc gây chết tôm.

Tuy nhiên, nếu nước giếng khoan sau khi bơm được sục khí mạnh, những kim loại Mn, Fe sẽ bị ôxy hóa thành MnO2 và Fe(OH)3 kết tủa, không gây hại cho tôm.

Trong nước biển tự nhiên, tỷ lệ Ca/Mg thường là 1/3,4 và ở nước giếng khoan tỷ lệ này là 10/1. Sự không cân bằng này có thể ảnh hưởng đến sự điều hòa thẩm thấu và là nguyên nhân gây ra hội chứng co cơ ở tôm. tag: máy thổi khí chất lượng cao

Thân chào Quý bạn đọc,

máy thổi khí

Gần đây tôi nhận được nhiều tư vấn về Máy thổi khí bị nóng khi hoạt động. Qua bài viết này, tôi tổng kết và đưa ra các gợi ý để khắc phục tình trạng Máy thổi khí bị nóng.

Nhiều năm cung cấp Máy thổi khí cho ao nuôi tôm, đội ngũ kỹ thuật Công ty 2 Lúa nhận thấy Máy thổi khí bị nóng do nhiều nguyên nhân, phần nhiều do chưa nắm rõ thông số kỹ thuật thiết bị cũng như cách lắp đặt sục khí phù hợp.

Quy ước:

Máy thổi khí bị nóng trong bài viết này được hiểu là nóng quá mức bình thường, sức nóng có thể làm giảm nở ống nhựa.

A. Các nguyên nhân Máy thổi khí bị nóng

A.1/ Máy thổi khí bị nóng do dư lưu lượng khí

Trường hợp này khá phổ biến hiện nay, bà con mua Máy thổi khí để cung cấp sục khí đáy với ống Nano-Tube , phần chưa nắm rõ thông số kỹ thuật Máy thổi khí và nhu cầu lưu lượng khí của ống Nano-Tube.

  • Máy thổi khí AT-50 cung cấp lưu lượng khí cho 70m ống Nano-Tube;
  • Máy thổi khí AT-65 cung cấp lưu lượng khícho 90m Nano-Tube;
  • Máy thổi khí AT-80 cung cấp lưu lượng khícho 120m Nano-Tube;
  • Lưu ý: Tốc độ quay 1450 vòng /phút; độ sâu của ao là 1m – 1.2m

Vì một vài lý do, bà con sử dụng một số lượng rất ít ống Nano-Tube (ao nuôi nhỏ, nuôi thử nghiệm).

Do ống Nano-Tube sử dụng quá ít, dẫn đến không thể xả (tiêu thụ) hết lượng khí của Máy thổi khí kéo theo Máy thổi khí bị ép, gia tăng áp suất dẫn đến Máy thổi khí bị nóng, amp của Motor tăng cao, có thể gây hỏng motor.

A.2/ Ống Nano-Tube không được thay mới thường xuyên

Ống Nano-Tube là dạng xốp, lỗ thông hơi qua nhiều lớp, không theo một trật tự cố định (zíc-zắc), vậy nên sau một thời gian sử dụng, ống bắt đầu xuất hiện hiện tượng bị nghẹt. Nếu môi trường nước nhiều chất lơ lửng, bùn bã nhiều thì quá trình nghẹt trở nên nhanh hơn.

Khi ống Nano-Tube nghẹt, lượng không khí tiêu thụ (xả) ít hơn làm tăng áp lực lên Máy thổi khí dẫn đến Máy thổi khí bị nén trở lại, nhiệt độ bắt đầu gia tăng quá mức bình thường.

A.3/ Máy thổi khí nóng do ống dẫn nhỏ; nhiều điểm co, gấp khúc…

Một nguyên nhân dẫn đến Máy thổi khí nóng là sử dụng đường dẫn hơi từ máy ra xung quanh ao quá nhỏ (phi Φ21, Φ27).

Theo kinh nghiệm của chúng tôi, sử dụng ống đường kính tối thiểu phi Φ42, Φ60.

Đường kính ống càng nhỏ thì ma sát càng lớn và ngược lại. Một lưu ý là giảm bớt số lượng co, tê càng nhiều càng tốt, giúp lưu thông không khí tốt hơn.

A.4/ Lượng nhớt không đủ hoặc chất lượng kém

Do trong quá trình máy hoạt động trên ao, người vận hành không chú ý kiểm tra mức nhớt trong máy hoặc do mắt thăm nhớt báo không chính xác.

Mọt nguyên nhân nữa được chỉ ra là sử dụng nhớt kém chất lượng.

B/ Khắc phục Máy thổi khí bị nóng

B.1/ Khắc phục Máy thổi khí bị nóng do dư lưu lượng khí

Giảm tốc độ quay của Máy thổi khí bằng cách sử dụng pu-li của Motor nhỏ hơn pu-li của Máy thổi khí.

Tăng số lượng ống Nano-Tube bằng cách gắn bổ sung 10-15m hoặc nhiều hơn tuỳ thuộc mức độ dư lưu lượng của Máy thổi khí.

Gắn thêm Van xả vào đường ống. Bạn có thể làm giảm áp lực cho Máy thổi khí bằng cách gắn thêm Van xả, điều chỉnh Van xả phù hợp cũng là giải pháp đơn giản để cân bằng áp suất cho Máy thổi khí.

B.2/ Khắc phục Máy thổi khí bị nóng do ống Nano-Tube nghẹt

Theo định kỳ, bạn nên thay thế mới ống Nano-Tube 6 tháng một lần.

Sử dụng Van một chiều để ngăn nước thấm ngược trở vào ống Nano-Tube. Sử dụng Ống Nano-Tube chất lượng tốt cũng hạn chế quá trình nghẹt của ống.

B.3/ Khắc phục Máy thổi khí bị nóng do ống dẫn nhỏ, gấp khúc

Ống dẫn chính từ máy thổi khí ra xung quanh ao hay bể nuôi nên sử dụng phi Φ42 trở lên.

Đối với ao nuôi có diện tích nhỏ (dưới 100m2), bạn có thể sử dụng ống phi Φ34.

Đương kính ống càng lớn ma sát càng nhỏ, điều này sẽ giúp cho Máy thổi khí hoạt động ổn định hơn.

Trong quá trình lắp đặt đường ống, chú ý đến các gốc co, hạn chế các góc gấp khúc. Sử dụng ống PVC chất lượng tốt, dán keo cẩn thận để đảm bảo đường ống không bị xì hơi. Nếu đường ống bị xì hơi, bạn rất khó phát hiện cũng như tìm ra vị trí bị xì.

B.4/ Sử dụng nhớt chất lượng tốt, thay nhớt thường xuyên

Theo khuyến cáo, nhớt sử dụng cho Máy thổi khí là nhớt 90, loại chất lượng tốt.

Định kỳ 30 ngày thay nhớt 1 lần (nếu chạy liên tục 24/24).

Đổ đủ số lượng nhớt vào họp nhớt của Máy thổi khí.


Một quan điểm sai lầm khi cho rằng sử dụng số lượng ống Nano-Tube ít để sục khí mạnh! Hãy hiểu rằng, nếu bọt khí phụt ra từ ống Nano-Tube quá mạnh, chúng sẽ trồi lên mặt nước rất nhanh, không có thời gian tiếp xúc trong nước để quá trình phản ứng diễn ra, oxy hoà tan rất thấp.

Sục khí đáy
Sục khí ao tôm

Trên đây là những chia sẽ từ kinh nghiệm thực tế. Sẽ còn nhiều nguyên nhân và cách làm tốt khác để hệ thống sục khí hoạt động hiệu quả hơn.

Cân bằng giữa lưu lượng khí của Máy thổi khí cung cấp với số lượng ống Nano-Tube sử dụng dụng. Khi đó Máy thổi khí hoạt động hiệu quả hơn, nhiệt độ ổn định, bọt khí tạo ra từ ống Nano-Tube nhỏ hơn, thời gian tương tác lâu trong nước, oxy hoà tan sẽ đạt hiệu suất cao hơn.

Nguồn: 2Lúa Blog hoặc Internet;
Tác giả: 2Lúa hoặc 2Lúa tổng hợp

Nuôi tôm bằng vi sinh tiết kiệm mà hiệu quả

Vậy sự lựa chọn men vi sinh nào là thích hợp? Theo thành phần hoặc theo hàm lượng, uy tín của nhà sản xuất, liều dùng mỗi lần và chi phí cả vụ, giá cả và dịch vụ tư vấn, qua kinh nghiệm truyền nhau, sản phẩm sản xuất trong nước hay là nhập khẩu? Câu trả lời sẽ là tất cả những quan tâm trên đây. tag: máy thổi khí

Giữa vô số các loại men vi sinh trên thị trường hiện nay, có lẽ người nuôi nên “tỉnh táo” để lựa chọn, đừng bị choáng ngợp bởi sản phẩm có đa dạng thành phần ở mức “số mũ to” hoặc liều sử dụng thấp, ngôn từ hoa mỹ về công dụng sản phẩm hay là giá cả thấp và chiết khấu cao.

Ưu tiên lựa chọn nên là kinh nghiệm truyền nhau, uy tín của nhà sản xuất / công ty phân phối và trên hết là trải nghiệm thực tế tại chính ao nuôi của mình.

Thực chất, có nhiều sản phẩm với thành phần và định lượng “khủng” nhưng khi xử lý tại ao không mấy tác dụng hoặc phải tăng liều gấp hai hoặc ba lần so với hướng dẫn sử dụng mà kết quả vẫn không như mong đợi

. Ngay cả khi đếm đủ định lượng vi khuẩn thì cũng chưa chắc là sản phẩm sẽ có hiệu quả trong môi trường ao nuôi thực tế vì phụ thuộc vào khả năng sống và phạm vi hoạt động / kiểm soát của từng loài / dòng vi sinh, lượng oxy, thông số lý hóa của đất và nước, tỉ lệ chất nền hữu cơ trong ao.

Bí quyết của một sản phẩm men vi sinh tốt sẽ ở kỹ thuật công nghệ nuôi cấy vi sinh của nhà sản xuất để đảm bảo các dòng vi khuẩn có lợi hoàn toàn tự nhiên, không biến đổi gien và chất lượng ổn định. Một số dòng vi khuẩn có lợi có khả năng kiểm soát tốt các thành phần dinh dưỡng trong cột nước để duy trì mật độ tảo ở mức thích hợp và hạn chế tảo độc phát triển, hoặc để ngăn ngừa các loại vi khuẩn hại và mầm bệnh tiềm tàng trong ao.

Đối với đáy ao có siphon hoặc không có siphon cũng rất cần những dòng vi khuẩn mạnh để kiểm soát sự tích tụ đáy ao, hạn chế quá trình yếm khí trong ao, giảm các loại khí độc (NH3, H2S) và hơn thế nữa là có thể hình thành các protein vi khuẩn và các floc để làm nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho tôm. Vì thế, người nuôi nên sử dụng kết hợp sản phẩm men vi sinh xử lý đáy và nước để kiểm soát môi trường ao nuôi tốt hơn.

Người nuôi cũng nên lựa chọn các nhà sản xuất có uy tín, chuyên nghiệp và công nghệ vi sinh tiên tiến. Men vi sinh chính là những vi khuẩn sống nên đòi hỏi quy mô thiết bị hiện đại để sản xuất được các sản phẩm thực sự chất lượng cao và ổn định. Ngoài ra, các nhà sản xuất chuyên nghiệp còn có khả năng truy xuất nguồn gốc mọi thành phần trong sản phẩm từ nhà cung cấp đến người tiêu dùng cuối cùng.

Song song với hiệu quả xử lý của sản phẩm, người nuôi tất nhiên sẽ lưu tâm tính toán đến liều lượng xử lý và chi phí toàn bộ vụ nuôi. Mỗi đợt xử lý đều phải tăng liều và/ hoặc thời gian xử lý định kỳ ngắn ngày hơn thì sản phẩm giá rẻ sẽ trở thành quá đắt khi tính trên cả vụ nuôi, chưa nói đến rủi ro nếu môi trường nuôi không được xử lý kịp thời ảnh hưởng đến tỉ lệ sống và chất lượng tôm nuôi.

Khi đã chọn được một sản phẩm vi sinh tốt, người nuôi cũng cần quan tâm đến cách dùng sản phẩm: tính toán liều chính xác, định kỳ xử lý hoặc chia liều định kỳ nhỏ lại hoặc tăng liều tùy theo điều kiện thông số môi trường và quy trình cho ăn.

Thường xuyên theo dõi khay thức ăn và kiểm tra bùn đáy ao để xử lý liều vi sinh thích hợp.

Môi trường đáy ao biến động xấu, tôm sẽ ăn nhiều thức ăn trong khay, nên người nuôi có thể cho ăn nhiều hơn hoặc tăng cữ ăn sẽ làm môi trường tệ hơn, khi đó phải tăng liều vi sinh thì sẽ tốn chi phí hơn và lãng phí thức ăn.

Cũng sẽ rất mất thời gian và lãng phí khi dùng liều vi sinh quá cao có thể gây sụp tảo, mất cân bằng môi trường gây căng thẳng cho thủy sản nuôi.

Ở các ngày nhiệt độ cao hoặc mưa liên tục thì cần điều chỉnh tăng liều vi sinh thích hợp để tảo không phát triển quá dày.

Không sử dụng vi sinh cùng lúc với hóa chất và kháng sinh, vì hóa chất và kháng sinh sẽ làm chết hoặc làm mất tác dụng của vi sinh. Nếu đã sử dụng hóa chất và kháng sinh trong ao thì khoảng 2 – 3 ngày sau nên sử dụng vi sinh để khôi phục lại hệ vi sinh vật có lợi trong ao để cải thiện chất lượng nước và đáy ao.

Đa phần các sản phẩm vi sinh ở dạng bột, người nuôi nên cân trọng lượng liều phù hợp với đối tượng nuôi, mật độ và diện tích / thể tích ao nuôi. Cách sử dụng men vi sinh dạng bột là nên cho vào chậu một ít nước trước khi đổ sản phẩm vào để hạn chế bị gió tạt, khuấy đều và tạt khắp ao.

Thời gian xử lý vi sinh tốt nhất là lúc trời nắng và khi môi trường trong ao đã đủ lượng oxy hòa tan để các dòng vi khuẩn nhanh chóng được khởi động và nhân rộng sinh khối. tag: may thoi khi

Có một quan niệm nên thay đổi về cách sử dụng men vi sinh là việc không sử dụng trước khi thả giống và sau khi thu hoạch, sử dụng loại men chất lượng trung bình, cắt giảm liều ở giai đoạn nuôi đầu vụ thì đều không thích hợp.

Môi trường ao nuôi trước khi thả giống đã được cải tạo và diệt khuẩn kỹ nên rất cần liều vi sinh mầm đầu tiên để nhân rộng sinh khối vi khuẩn có lợi đủ để lấn át vi khuẩn có hại và mầm bệnh tiềm tàng trong ao, đồng thời duy trì sử dụng vi sinh trong suốt quá trình nuôi để tạo môi trường thuận lợi nhất cho tôm phát triển.

Mặt khác, sau khi thu hoạch, ao nuôi còn lại rất nhiều các chất thải, cặn bã, phân tôm, xác tảo, bùn đen, mùi hôi thối, … cho nên cần sử dụng vi sinh để xử lý nước và đáy ao trước khi xả thải ra môi trường nhằm duy trì cho ao nuôi / vùng nuôi an toàn sinh học và bền vững ở các vụ tiếp theo.

Nên lưu ý rằng chi phí xử lý sự cố / rủi ro biến động môi trường hoặc phục hồi môi trường thì rất tốn kém, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tỉ lệ sống của tôm hoặc thủy sản nuôi. Men vi sinh không phải là liều thuốc tiên, nên không thể khi nào có sự cố môi trường thì mới sử dụng.

Cần định kỳ xử lý vi sinh để duy trì một mật độ vi khuẩn thích hợp nhằm kiểm soát sinh học môi trường nước và đáy ao, ổn định các điều kiện mong muốn trong môi trường nuôi trồng, ngăn ngừa và lấn át các loài vi khuẩn gây bệnh, tảo độc và mầm bệnh tiềm tàng trong ao

. Người nuôi nên áp dụng quy trình xử lý vi sinh trước, trong và sau mỗi vụ nuôi.

Men vi sinh nên được bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp, nóng và nơi ẩm thấp. Nếu sử dụng không hết gói thì gói kín phần còn lại, cần tránh ẩm để không bị đóng vón.

Tóm lại, chọn một loại men vi sinh tốt sử dụng đúng cách kết hợp trong quy trình nuôi an toàn sinh học sẽ giúp người nuôi quản lý và theo dõi môi trường nuôi thuận lợi hơn và đảm bảo an toàn sức khỏe cho tôm và thủy sản nuôi khác. tag: máy thổi khí chất lượng cao

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-tom-bang-vi-sinh-tiet-kiem-ma-hieu-qua-36692.html

Giải pháp phòng chống hội chứng tôm chết sớm (EMS)

Tại hội thảo này, các nghiên cứu của các nhà khoa học cũng như doanh nghiệp đã được đưa ra để giúp cơ quan quản lý, đặc biệt là ND Việt Nam có biện pháp hạn chế thiệt hại trong nuôi tôm do EMS trong thời gian tới. tag: máy thổi khí

Những kết quả nghiên cứu bước đầu

Theo kết quả thực nghiệm của giáo sư Donald Lightner – Đại học Arizona (Hoa Kỳ) và Trung tâm Thử nghiệm của Tập đoàn CP (Thái Lan), mầm bệnh Vibrio parahaemolyticus gây EMS phát triển rất nhanh nên có khả năng cạnh tranh mạnh với các vi khuẩn khác.

Khi ao nuôi được tẩy trùng bằng Chlorine trước khi thả tôm giống, vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus có thể phục hồi nhanh hơn nhiều so với các vi khuẩn cạnh tranh có lợi.

Do đó, nếu không sử dụng kịp thời vi khuẩn có lợi (men tiêu hóa, mem vi sinh) để khôi phục tính đa dạng của cộng đồng vi khuẩn, Vibrio parahaemolyticus có xu hướng xâm lấn tới bề mặt.

Vi khuẩn này được tìm thấy ở đáy ao và sản xuất ra chất độc cực mạnh.

Kinh nghiệm từ người nuôi tôm cho thấy, khi tôm nuôi có dấu hiệu bị bệnh gan tụy nên hạn chế cho ăn hoặc giảm lượng thức ăn sẽ giảm được tỷ lệ chết của tôm.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, EMS ít khi xảy ra ở độ mặn thấp, với độ mặn dưới 5/1000, EMS không phải là một vấn đề, do đó các trại nuôi may mắn nằm gần nguồn nước ngọt dường như không gặp vấn đề với bệnh EMS. Với độ mặn trên 5/1000, EMS sẽ là vấn đề cần đặc biệt chú ý, nhất là khi nước ao nuôi có độ mặn trên 10/1000, bởi khi đó EMS sẽ có tác động mạnh nhất.

Khuẩn gây bệnh EMS ưa phát triển ở môi trường đáy ao nên tôm nuôi trong lồng đặt cách xa đáy ao có ít nguy cơ bị nhiễm EMS hơn. tag: may thoi khi

Giải pháp hạn chế thiệt hại do EMS

Qua thống kê cho thấy, nuôi tôm cỡ lớn dường như ít bị bệnh EMS hơn so với tôm cỡ nhỏ.

Do đó, một trong những kỹ thuật là ương nuôi tôm giống trong các bể xi măng hoặc composite, từ 10-25 ngày bằng nguồn nước ao nuôi trước khi thả tôm vào nuôi trong ao. Điều này sẽ giảm thiệt hại nếu như tôm giống bị chết, người nuôi tôm không mất công xả ao và cải tạo lại ao.

Kinh nghiệm từ người nuôi tôm cho thấy, khi tôm nuôi có dấu hiệu bị bệnh gan tụy nên hạn chế cho ăn hoặc giảm lượng thức ăn sẽ giảm được tỷ lệ chết của tôm.

Phương pháp phòng bệnh EMS được các nhà khoa học quan tâm đó là nuôi ghép tôm với một số đối tượng thủy sản khác, chẳng hạn như cá rô phi. Tại Malaysia, một số người nuôi tôm đã hạn chế được thiệt hại do EMS bằng cách sử dụng nước từ ao nuôi cá măng biển và cá rô phi bơm sang ao nuôi tôm.

Theo tiến sĩ Donald Lightner, nuôi ghép tôm với các đối tượng thủy sản khác có mức độ an toàn dịch bệnh cao hơn hẳn so với nuôi tôm độc canh.

Các đối tượng thủy sản này sẽ tiêu diệt các loài thiên địch có hại để bảo vệ sự cân bằng tự nhiên vốn có, đồng nghĩa các loại vi khuẩn có hại cho tôm sẽ bị tiêu diệt và tôm không ăn phải những loài vi khuẩn này nên ít bị nhiễm bệnh.

Tuy nhiên, giải pháp nuôi ghép vướng phải vấn đề tôm nuôi bị các đối tượng thủy sản khác ăn nếu nuôi không đúng kỹ thuật và đạt năng suất thấp so với nuôi tôm đơn canh nên đây cũng chỉ là giải pháp tạm thời.

Việc sử dụng công nghệ sinh học biofloc để đa dạng hóa quần thể sinh vật trong các ao nuôi tôm cũng được quan tâm rất nhiều.

Tuy chưa có các nghiên cứu giám sát về phương pháp này nhưng trong khuôn khổ nhóm công tác của Ngân hàng Thế giới/Quỹ Nuôi trồng thủy sản có trách nhiệm cho thấy nhiều mô hình áp dụng công nghệ Biofloc giúp tôm ít bị nhiễm EMS hơn. tag: máy thổi khí chất lượng cao

Kiểm soát dịch bệnh trong nuôi tôm bằng chế phẩm sinh học

Kháng sinh đã được sử dụng với khối lượng lớn nhằm kiểm soát bệnh dịch, tuy nhiên, việc sử dụng này trong nhiều trường hợp thường không mang lại hiệu quả hoặc làm tăng thêm mầm bệnh. tag: máy thổi khí

Công nghệ nuôi tôm bằng chế phẩm sinh học là chìa khóa giải quyết các vấn đề này.

Theo dự báo của FAO, ngành nuôi trồng thủy sản sẽ đáp ứng một nửa nhu cầu về sản phẩm thủy sản đến năm 2020 do ngành khai thác bị khai thác quá mức, dẫn đến sản lượng khai thác suy giảm.

Nghề nuôi tôm đang được mở rộng trên toàn thế giới, đặc biệt là các nước nhiệt đới do nhu cầu về sản phẩm này ngày càng tăng.

Tuy nhiên, nghề nuôi tôm hiện đang bị ảnh hưởng bởi các bệnh do vi khuẩn Vibrio và vi rút gây ra.

Mật độ thả nuôi trong các ao nuôi và bể chứa cao là nguyên nhân tạo ra các mầm bệnh và việc sử dụng các thức ăn giàu protein cũng tạo môi trường thuận lợi cho các vi khuẩn gây bệnh phát triển.

Phản ứng vi sinh trong nuôi trồng thủy sản

Việc sử dụng chế phẩm sinh học (men vi sinh) hay các vi khuẩn có lợi để loại trừ các vi khuẩn gây bệnh bằng quá trình cạnh tranh là một giải pháp tốt hơn nhiều so với việc sử dụng thuốc kháng sinh.

Nhờ bổ sung thêm các loài vi khuẩn có lợi được lựa chọn để loại trừ các vi khuẩn có hại nên thành phần các loài vi khuẩn trong ao nuôi có thể được thay đổi.

Tuy nhiên, quá trình này có thành công hay không lại phụ thuộc vào việc xác định quá trình sinh học, loại vi khuẩn có hại và dòng chế phẩm sinh học.

Cạnh tranh loại trừ là một trong các quá trình sinh học cho phép kiểm soát các thành phần vi khuẩn trong nước, trong các chất cặn bã và trong ruột của loài thủy sản nuôi.

Thuốc kháng sinh và mầm bệnh

Vibrio đã từng là nguyên nhân chính gây ra dịch bệnh trên tôm.

Để kiểm soát dịch bệnh do vi khuẩn Vibrio gây ra, người ta đã sử dụng thuốc kháng sinh, tuy nhiên cho đến thời điểm này, hiệu quả của việc sử dụng thuốc kháng sinh là rất thấp.

Ở Philippines, bệnh do vi khuẩn Vibrio đã gây ra tổn thất lớn về sản lượng tôm và gây thiệt hại về kinh tế cho người nuôi tôm trong năm 1996.

Vi khuẩn Vibrio đã kháng lại mọi loại thuốc kháng sinh  như chloramphenicol, furazolidone, oxytetracycline, và streptomycin và còn nguy hiểm hơn so với trước đây.

Tại Thái Lan, người nuôi đã sử dụng norfloxacin trong thức ăn, loại thuốc từng rất hiệu quả trong việc chống lại vi khuẩn Vibrio.

Tuy nhiên, điều trị này không mang lại hiệu quả vì sau khi ngừng thuốc toàn bộ tôm chết trong hai ngày. Rõ ràng, dòng vi khuẩn Vibrio đã kháng thuốc.

Chlorine được sử dụng rộng rãi trong các trại giống và trong các ao nuôi; tuy nhiên, việc sử dụng này lại kích thích sự phát triển của gen kháng thuốc trong vi khuẩn.

Một số người nuôi tôm ở Thái Lan cho biết khi chlorine được sử dụng trong các ao nuôi để diệt động vật phù du trước khi thả tôm, tuy nhiên sau khi dừng thả chlorine thì khuẩn Vibrio lại phát triển nhanh chóng.

Như vậy, Vibrio không những chỉ kháng thuốc mà còn là nguyên nhân gây thêm mầm bệnh.

Việc sử dụng thuốc chống vi khuẩn làm tình hình trở nên tồi tệ hơn.

Nếu thuốc kháng sinh hay thuốc sát trùng được sử dụng để diệt trừ vi khuẩn, một số vi khuẩn, mầm bệnh vẫn sống sót, bởi chúng đã mang gen kháng thuốc.

Bất cứ mầm bệnh nào trở lại trong ao hay các bể chứa từ ruột cá hay từ đường ống nước, đều có thể trao đổi gen với các vi khuẩn kháng thuốc và còn khỏe hơn trước.

Do vậy, các mầm bệnh kháng thuốc phát triển rất nhanh do đối thủ cạnh tranh đã bị loại trừ. Nồng độ tetracycline không đủ mạnh để diệt trừ vi khuẩn, do vậy tỷ lệ truyền gen giữa Vibrio cholerae and Aeromonas salmonicida tăng 100 lần. tag: may thoi khi

Chế phẩm sinh học (men vi sinh)

Việc sử dụng chế phẩm sinh học để loại trừ các mầm bệnh bằng quá trình cạnh tranh loại trừ đang được sử dụng ngành chăn nuôi như là một giải pháp thay thế hữu hiệu hơn so với việc dùng thuốc kháng sinh và hiện được ứng dụng rộng rãi trong việc kiểm soát mầm bệnh trong nuôi trồng thủy sản.

Thuật ngữ “chế phẩm sinh học” thường được định nghĩa là các vi khuẩn có lợi cho vật chủ.

Theo Fuller (1989), chế phẩm sinh học là sự bổ sung một loại thức ăn vi sinh vật sống có tác dụng có lợi cho vật chủ qua việc cải tiến sự cân bằng vi sinh hệ trong đường ruột của vật chủ.

Trong nuôi trồng thủy sản, môi trường ao nuôi là môi trường thuận lợi cho các mầm bệnh phát triển độc lập với vật chủ, và vì thế các mầm bệnh phát triển nhanh vây quanh vật chủ.

Vi khuẩn Vibrio phát triển bám vào tảo và càng phát triển nhanh hơn trong hệ tiêu hóa của loài nuôi.

Do vậy, ở nơi nào mà mật độ tảo và loài nuôi cao thì số lượng vi khuẩn Vibrio cũng cao, gây ra mầm bệnh trên tôm, đặc biệt là mầm bệnh đã tăng do việc sử dụng thuốc diệt vi khuẩn quá liều.

Thành phần loài của một cộng đồng vi khuẩn, ví dụ cộng đồng vi khuẩn ở trong ao nuôi sẽ do tự nhiên quyết định. Điều này có nghĩa là các yếu tố tự nhiên quyết định loài này phát triển nhanh hơn các loài khác và chiếm ưu thế.

Cơ hội phát triển sẽ thuộc về các vi sinh vật ngẫu nhiên ở đúng vị trí, đúng thời điểm để có được nguồn dinh dưỡng như tảo hay thức ăn dư thừa xung quanh.

Cạnh tranh loại trừ là một trong các quá trình sinh học có thể được kiểm soát để làm thay đổi thành phần của đất, trong các thủy vực hay môi trường vi khuẩn khác.

Những thay đổi nhỏ ảnh hưởng tới tỷ lệ tăng trưởng hay tỷ lệ chết sẽ dẫn đến các thay đổi về sự chiếm ưu thế của từng loài.

Tuy chúng ta không biết các thành phần loài trong môi trường tự nhiên nhưng chúng ta có thể thay đổi thành phần loài bằng cách tận dụng các nguyên tắc cạnh tranh loại trừ.

Vì vậy, vi khuẩn không cần thiết phải diệt trừ tất cả các đối tượng cạnh tranh mà chỉ cần tăng tỷ lệ chết vừa đủ để lấy lại sự cân bằng trong việc tận dụng nguồn thức ăn.

Chẳng hạn, nếu dòng vi khuẩn Bacillus được sản xuất để kiềm chế sự phát triển của vi khuẩn Vibrio thì  tỷ lệ chết của vi khuẩn Vibrio sẽ tăng, dẫn đến dòng vi khuẩn Bacillus sẽ chiếm ưu thế, ngay cả khi thuốc kháng sinh được sản xuất ra có nồng độ không đủ mạnh để loài trừ tất cả các tế bào của vi khuẩn Vibrio.

Trong thập kỷ vừa qua, các công nghệ sinh học cũng như các nghiên cứu về vi khuẩn đã đạt được những thành tựu nhất định, vì thế các sản phẩm thương mại và công nghệ được bán để xử lý nước trong ao nuôi nhằm nâng cao mật độ của các loài vi sinh vật hay cải thiện các hoạt động sinh hóa.

Điều chỉnh sinh học đang được áp dụng ở nhiều lĩnh vực, tuy nhiên mức độ thành công cũng khác nhau, chủ yếu phụ thuộc vào sản phẩm được sử dụng và thông tin kỹ thuật đến với người tiêu dùng.

Loài vi khuẩn được dùng trong quá trình điều chỉnh sinh học phải được lựa chọn theo đúng chức năng để có thể thực hiện điều chỉnh sinh học và phải được dùng đúng liều lượng và ở môi trường phù hợp mới có thể đạt được kết quả mong muốn.

Điều chỉnh sinh học và việc sử dụng chế phẩm sinh học là những công cụ hữu ích cho quản lý nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng còn phụ thuộc vào việc hiểu biết bản chất của quá trình cạnh tranh giữa các loại vi khuẩn hay các dòng vi khuẩn cụ thể.

Chế phẩm sinh học như gram dương Bacillus là giải pháp thay thế việc dùng kháng sinh, hướng tới nuôi trồng thủy sản bền vững. Dòng chế phẩm Bacillus thường được tìm thấy trong lớp cặn bã và là thức ăn tự nhiên của tôm cá.

Các ứng dụng chế phẩm sinh học trong nuôi tôm

Thành phần loài vi khuẩn trong các ao nuôi tôm có diện tích khoảng 1 ha, trong các bể ương giống hay trong hệ tiêu hóa của tôm có thể dễ dàng thay đổi, nhờ vậy, sản lượng tôm được cải thiện.

Ví dụ điển hình là trang trại Viveros ở Negros, nơi bị thiệt hại nặng nề do vi khuẩn Vibrio gây ra.

Các loại thuốc kháng sinh đã được sử dụng trong thức ăn, tuy nhiên hiệu quả mang lại không cao. Sự có mặt của vi khuẩn Vibrio ở trong ao nuôi của vùng đó thường ở mức 103-104/ml trong vòng 2-3 tuần trong các ao nuôi sinh sản.

Tuy nhiên, khi chế phẩm sinh học được sử dụng thì không thấy xuất hiện bệnh và tỷ lệ sống là rất cao (80-100%) ngay cả khi vẫn có sự hiện diện của vi khuẩn Vibrio trong nước.

Trong các ao nuôi ở Philipin, khi chế phẩm sinh học được bổ sung thêm vào thức ăn thì số lượng vi khuẩn Vibrio trong gan tụy của tôm giảm xuống còn 1×104/ruột tôm và giảm xuống còn 0% khi chế phẩm được thả xuống ao.

Do vậy, nhiều người nuôi nhận thấy việc sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh do vi khuẩn Vibrio gây ra không mang lại kết quả.

Tại Indonesia, khi các dòng chế phẩm sinh học được lựa chọn thả xuống các ao nuôi thì vi khuẩn Vibrio hoàn toàn bị loại trừ trong nước và cặn bã ở đáy ao nuôi.

Quá trình này xảy ra là do việc tận dụng cơ chế tự nhiên, qua đó các vi khuẩn cạnh tranh loại trừ lẫn nhau.

Điều này cho thấy các vấn đề về bệnh có thể được giải quyết nhờ việc áp dụng chế phẩm sinh học. tag: máy thổi khí chất lượng cao

Như vậy, việc sử dụng chế phẩm sinh học, dựa trên nguyên tắc cạnh tranh loại trừ là một phương pháp thay thế hữu hiệu trong việc phòng và điều trị bệnh trên tôm, đồng thời hướng tới một ngành nuôi tôm bền vững, thân thiện với môi trường và mang đến sản phẩm chất lượng, an toàn cho người tiêu dùng.

Bền vững nuôi tôm tuần hoàn nước xanh

Một trong những hộ nuôi được xem là thành công nhất của dự án là anh Ngô Văn Sử.

Anh nuôi được 6 vụ, chỉ thất bại 2 vụ. tag: máy thổi khí

Nhưng 2 vụ này anh vẫn thu hồi được vốn, 4 vụ còn lại trung bình anh thu về 70 triệu đồng/vụ.

Theo anh Sử, có được kết quả trên là do cây lúa tạo môi trường nước xanh, sạch khi cấp cho ao nuôi, giúp tôm phát triển tốt.

Mô hình này được nhiều hộ dân học hỏi và cho hiệu quả cao hơn cách làm truyền thống.

Môi trường sạch, hiệu quả cao

Dự án được triển khai năm 2013 với điều kiện vuông tôm phải có ao trữ nước ngọt, bờ vuông phải được gia cố, không rò rỉ.

Bước đầu có 12 hộ tham gia, trong đó 6 hộ thực hiện mô hình và 6 hộ thực hiện đối chứng để so sánh.

Mục tiêu là giảm chi phí sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng cho tôm và lúa được các hộ tham gia thực hiện đúng quy trình.

Bước đầu 6 hộ nuôi theo mô hình cho năng suất, hiệu quả cao hơn 6 hộ đối chứng.

Anh Ngô Văn Sử cho biết: Nhờ thực hiện khâu rửa mặn đúng quy trình nên cây lúa đã phát triển trở lại trên đất nuôi tôm.

Theo đó, tạo môi trường đất, nước cung cấp cho mô hình nuôi thâm canh tôm sú, tôm thẻ chân trắng theo kỹ thuật và quy trình của Dự án đều cho hiệu quả cao, cải thiện được tình trạng khó khăn mà nhiều năm qua người dân nơi đây không thể thực hiện được.

Nhờ sự nghiên cứu về dinh dưỡng, độ mặn, phèn tiềm tàng trong đất mà các chuyên gia khoa học đã đưa ra giải pháp bón phân, vôi, rửa phèn, mặn hợp lý.

Việc chăm sóc lúa trong giai đoạn nắng hạn cùng với ao trữ nước ngọt được thực hiện ngay từ đầu đã giúp cho mô hình trồng 1 vụ lúa trên đất nuôi tôm thành công.

Song song mô hình lúa phát triển tốt, tạo môi trường trong sạch cung cấp cho ao nuôi tôm thâm canh và một số hộ nuôi quảng canh cải tiến thu nhập tăng hơn so với cách nuôi trước khi thực hiện mô hình. tag: máy sục khí

Nhân rộng mô hình

Bên cạnh hiệu quả mô hình nuôi bán thâm canh, loại hình nuôi quảng canh cải tiến và truyền thống cũng cho hiệu quả bền vững và năng suất, thu nhập cao.

Do thực hiện hiệu quả vụ lúa nên môi trường đất, nước phù hợp cho con tôm quảng canh phát triển, ít dịch bệnh nên thu nhập của người dân thực hiện trong mô hình ngày càng ổn định.

Ông Dương Thanh Dũng, Bí thư Chi bộ ấp Thị Tường, người thực hiện mô hình, cho biết:

Do người nuôi thực hiện theo mô hình nên số lần thả giống 1 năm chỉ 4 – 5 đợt cùng 1 đợt cua, thu nhập trung bình mỗi năm 150 triệu đồng/ha, có nhiều hộ đạt 200 triệu đồng từ tôm và cua.

Từ đó, nhiều hộ dân trong ấp tự nguyện học hỏi kinh nghiệm và làm theo.

Từ 6 hộ sản xuất theo mô hình, nay tăng lên 18 hộ, tất cả đều nuôi theo dạng tuần hoàn nước xanh.

Trong đó, ngoài thành công bên mô hình nuôi bán thâm canh trên tôm sú và tôm thẻ thì diện tích cấy lúa, nuôi quảng canh truyền thống và luân canh tôm, cua đều cho năng suất và thu nhập tăng theo từng vụ nuôi.

Theo ông Nguyễn Công Thành, Phân viện phó Phân viện Nghiên cứu Thủy sản Minh Hải, đơn vị thực hiện dự án, đánh giá: Qua thực hiện nhiều dự án, mô hình tính đến thời điểm này có thể nói nuôi tôm bán thâm canh và thâm canh mật độ thưa theo mô hình tuần hoàn nước xanh cho hiệu quả nhất.

Năng suất cả tôm và lúa qua từng vụ nuôi luôn ổn định và cho thu nhập cao.

Từ đó, người dân ngày càng ý thức hơn trong việc duy trì mô hình này.

Nhờ môi trường nuôi sạch được cấp từ nước trên ruộng lúa và mật độ thưa (15 con/m2 đối với tôm sú và 20 – 30 con/m2 đối với tôm thẻ chân trắng) nên tôm mau lớn, ít dịch bệnh. tag: máy sục khí o2-turbine

Hiện, với 2 ao nuôi tôm sú mật độ 8 con/m2, thời gian gần 3 tháng tôm đạt trọng lượng 40 – 50 con/kg, anh Ngô Văn Sử dự kiến thu về vài chục triệu đồng.