Tag Archives: nuoi tom su

Phương Pháp Xử Lý Chất Thải Trong Ao Nuôi Tôm

Ðiều kiện nền đáy ao nuôi tôm có ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước ao nuôi tôm thể hiện qua các thông số môi trường như oxy hòa tan, độ trong của nước, sự phát triển của tảo, hàm lượng các khí độc, sự hiện diện và phát triển các loại vi khuẩn gây bệnh,….

Phương Pháp Xử Lý Chất Thải Trong Ao Nuôi Tôm

Ðáy ao tốt hay xấu phụ thuộc vào chất đất và sự lắng tụ chất thải trong quá trình nuôi tôm mà đặc biệt là chất thải hữu cơ trong suốt quá trình nuôi. Chính vì vậy, ngoài việc chọn chất đất tốt để xây dựng ao nuôi thì việc quản lý tốt chất thải lắng tụ, giữ nền đáy ao luôn sạch là một trong những biện pháp rất cần thiết trong quá trình nuôi tôm. tag: thuốc thuỷ sản

Chất thải lắng tụ trong ao nuôi tôm phát sinh từ nhiều nguồn gốc khác nhau và có sự khác biệt giữa các ao nuôi, bao gồm: Ðất ao bị xói mòn do dòng chảy của nước; đất từ bờ ao bị rửa trôi; phân tôm; thức ăn thừa; xác chết của phiêu sinh vật; các loại vôi, khoáng chất; chất lơ lửng do nguồn nước cấp. Trong đó  hai yếu tô đầu tiên không phải là nguyên nhân chính của sự hình thành chất hữu cơ. Chất hữu cơ có nguồn gốc chủ yếu từ phân tôm, thức ăn thừa và xác chết của phiêu sinh vật (còn gọi là chất thải).

Đối với  hệ thống ao nuôi năng suất cao như hiện nay thì lượng chất thải hữu cơ tích tụ nhiều chủ yếu do các yếu tố còn lại vì vậy đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ sự tồn lưu chất thải lắng tụ trong ao nuôi tôm. Chất thải lắng tụ trong ao nuôi tôm sinh ra hai sản phẩm chính có tính độc cao đối với nuôi tôm là NH3 và H2S.

Khí NH3 sinh ra do sự bài tiết của tôm và sự phân hủy chất đạm có trong các vật chất hữu cơ ở điều kiện hiếu khí và yếm khí. Khí H2S chỉ sinh ra từ các chất hữu cơ lắng tụ khi phân hủy trong điều kiện yếm khí. Nếu H2S hiện diện trong ao nuôi ở nồng độ cao, ta có thể nhận ra bằng đặc điểm có mùi trứng thối đặc trưng của H2S. Tuy nhiên, khi nồng độ H2S cao đủ để phát hiện bằng mùi thối thì chúng đã vượt trên mức gây độc cho tôm.

NH3 sinh ra chủ yếu ở giai đoạn tôm nuôi ở tháng thứ ba tuy nhiên nếu quản lý tốt thì sẽ hạn chế được hiện tượng này. Khí H2S thường phát sinh ở những ao dọn tẩy không triệt để. Tính độc của NH3 và H2S tùy thuộc vào nồng độ của chúng, độ pH và các thông số khác. NH3 trở nên độc hơn khi pH cao còn H2S lại độc hơn khi pH thấp. Ngoài việc sinh ra chất độc thì chất thải là nơi phát sinh các dòng vi khuẩn gây bệnh cho tôm đặc biệt là các bệnh đen mang, mòn đuôi, cụt râu,…

Sự hiện diện của các dòng vi khuẩn và phiêu sinh vật trong ao nuôi tôm thể hiện sự phân hủy tự nhiên của các chất độc và chất thải trong ao nuôi tôm. Các quá trình phân hủy bị ảnh hưởng bởi hàm lượng ôxy hòa tan trong ao, nhiệt độ và dòng chảy. Nếu chất thải hình thành nhanh hơn tốc độ phân hủy thì sự tích tụ sẽ xuất hiện trong ao gây ảnh hưởng đến sức đề kháng và nguyên nhân gây bệnh cho tôm nuôi.

Ðể hạn chế sự tích tụ lượng chất thải trong ao nuôi tôm chúng ta cần lưu ý một số vấn đề sau:

a. Chuẩn bị ao kỹ

Trong ao nuôi tôm công nghiệp. mặc dù có quản lý chất thải tốt đến đâu thì việc tồn lưu chất thải hữu cơ sau vụ nuôi tôm là điều không thể trách khỏi. Do đó, trước khi thả tôm chúng ta phải tiến hành dọn sạch chất thải, rải vôi, phơi đáy và cày xới đáy ao giúp cho đáy ao thông thoáng, tiêu diệt mầm bệnh và giải phóng khí độc là điều hết sức cần thiết.

b. Quản lý sự xói mòn do dòng chảy của nước

Sự xói mòn do dòng chảy của nước chủ yếu do hoạt động của hệ thống mày quạt nước, sự xói mòn từ bờ ao khi trời mưa và thường xảy ra ở những ao nuôi mới xây dựng. Ðể khắc phục hiện tượng này, trước khi nuôi tôm đối với những ao mới xây dựng cần phải rửa ao nhiều lần, gia cố bờ chắc chắn. Ðặt hệ thống quạt nước sao cho dòng chảy trong ao điều hòa đảm bảo chất thải gom tụ lại ở giữa ao và tạo ra được tỷ lệ diện tích đáy ao sạch là cao nhất.

c. Quản lý thức ăn

Trong nuôi bán thâm canh và thâm canh thì việc chọn loại thức ăn và quản lý tốt lượng thức ăn sử dụng trong ao nuôi có ý nghĩa rất lớn đến sự tồn tại của chất thải hữu cơ vì chất lượng thức ăn kém dẫn đến hệ số tiêu tốn thức ăn cao, hoặc do độ tan rã thức ăn trong nước lớn làm cho tôm không sử dụng hết thức ăn, hoặc do việc điều chỉnh thức ăn không phù hợp, vị trí cho tôm ăn không phù hợp sẽ dẫn đến dư thừa thức ăn trong ao. Ðể làm tốt điều này cần phải chọn loại thức ăn có chất lượng cao và sử dụng thức ăn cho tôm nuôi một cách hợp lý, tránh hiện tượng thừa thức ăn.

d. Quản lý tốt màu nước ao nuôi

Ðây là một công việc hết sức cần thiết bởi một trong những vai trò tích cực của tảo là làm tăng chất lượng nước, giảm các khí độc tồn tại trong ao.

e. Chọn nguồn nước cấp thích hợp

Nguồn nước cấp vào nuôi cũng là một trong những lý do làm tích tụ chất hữu cơ trong ao nuôi tôm. Do vậy, khi chọn nguồn nước cấp vào ao nuôi chúng ta cần phải chọn những nguồn nước ít chất lơ lửng, không có tảo.

g. Gom tụ chất thải và tránh khuấy động chất trong ao nuôi

Việc sử dụng máy quạt nước để gom tụ chất thải, áp dụng việc sử dụng các loại vôi, khoáng chất, tránh khuấy động vùng gom tụ chất thải sẽ là một giải pháp tương đối an toàn vừa tạo ra vùng sạch cho tôm hoạt động vừa tránh sự phát tán chất lơ lửng trở lại nước ao trong suốt thời gian nuôi,… Nên dành một ao chứa có diện tích phù hợp để gom tụ chất thải, tránh xả thẳng chất thải ra bên ngoài. tag: thuoc thuy san

Ngoài ra, việc sử dụng ao chứa lắng và nuôi mật độ vừa phải cũng là một giải pháp tốt trong việc quản lý chất thải.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phuong-phap-xu-ly-chat-thai-trong-ao-nuoi-tom-3450.html

Phát huy tiềm năng di truyền của tôm sú

Tôm sú (Penaeus monodon) là loài tôm được nuôi nhiều thứ hai trên toàn cầu, chiếm khoảng 15% tổng sản lượng tôm năm 2014, tương đương 634.521 tấn (FAO 2016).

Mặc dù tăng trưởng sản xuất sớm vào giữa những năm 1980 nhưng việc tiếp tục mở rộng ngành nuôi tôm sú đã không đạt được những kỳ vọng ban đầu, chủ yếu do khó khăn về nguồn cung cấp tôm bố mẹ và sự thuần hóa các loài, sự tàn phá của các bệnh do virus, sự cạnh tranh trên thị trường từ các loài tôm họ penaeid khác, và các rào cản thương mại.

Kết quả là, ngành nuôi tôm chân trắng hoàn toàn thuần hóa và được cải thiện di truyền (Penaeus vannamei) đã trở thành một xu hướng phổ biến, đặc biệt là ở châu Á, nơi mà loài này đã được đưa vào sản xuất thương mại vào năm 1996. tag: thuốc thuỷ sản

Ở Úc, tôm sú vẫn là loài giáp xác được nuôi chính, chiếm khoảng 95% tổng sản lượng tôm trong năm 2014 (5.000 tấn; APFA 2016). Trong lịch sử, ngành nuôi tôm của Úc đã phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tôm bố mẹ tự nhiên làm nguồn sản xuất tôm giống cần thiết cho các trại nuôi tôm, mặc dù các tiến bộ gần đây trong việc nuôi và thuần hóa của một số công ty đang làm giảm sự phụ thuộc này.

Việc thuần hóa bán thương mại cùng với sự chọn lọc để tăng cường phát triển, sự tồn tại và kháng bệnh đã nhấn mạnh những lợi ích và sự tăng năng suất có thể thu được từ việc cải tiến di truyền của các loài (ví dụ, sản lượng cao hơn 39% so với giống tôm tự nhiên; Norman-Lopez. et al 2015. Aquaculture Research doi:. 10,1111 / are.12782). Do vậy, việc lai tạo chọn lọc giống tôm sú là mối quan tâm lớn ở Úc. Tuy nhiên, đến nay, ngành nuôi tôm Úc đã không thu được nhiều lợi nhuận từ việc này.

Hội đồng ARC cho nhân giống tiên tiến tôm sú

Nhận thức được tầm quan trọng của ngành nuôi trồng thủy sản là một ngành công nghiệp cung cấp hải sản lành mạnh và bền vững cho cộng đồng toàn cầu, Hội đồng nghiên cứu Úc (ARC) đã tài trợ 5 năm cho Trung tâm Nghiên cứu Chuyển đổi công nghiệp với các nhà di truyền học động vật, các nhà nghiên cứu về gien, bệnh học và nuôi trồng thuỷ sản hàng đầu từ Đại học James Cook, Tổ chức nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Khối thịnh vượng chung (CSIRO) và Đại học Sydney, các chuyên gia về xác định trình tự bộ gien từ các cơ sở nghiên cứu Bộ gien Úc (AGRF) và Đại học Ghent, và một trong những nhà sản xuất tôm nuôi lớn nhất của Úc, Seafarms Group. (Seafarms Group là người đề xuất dự án Sea Dragon, dự án nhằm mục đích phát triển một trong những trang trại nuôi tôm lớn nhất thế giới bao gồm 10.000 ha ao nuôi ở miền bắc Úc.)

Các mẫu tôm sú là kiểu hình nhuộm màu

Các kết quả của Trung tâm ARC về lai tạo giống tôm tiên tiến nhằm mang lại những kiến thức di truyền của tôm sú đến một mức độ tương đương như ở gia súc, để tạo ra các công cụ và quy trình cần thiết nhằm tiến hành một chương trình nhân giống tiên tiến cho các loài có khả năng mở rộng sản xuất ở quy mô công nghiệp. Đặc biệt, Trung tâm đã nỗ lực chỉ ra các kiến thức về di truyền và kiểu hình giúp các phương pháp thống kê chính xác cao dựa trên các marker bộ gien có thể được sử dụng để dự đoán giá trị di truyền của một vật nuôi.

Cách tiếp cận này được gọi là chọn lọc gien và gần đây đã được thiết lập như một tiêu chuẩn vàng trong chương trình cải tiến vật nuôi và cây trồng. Việc kết hợp chọn lọc gien vào chương trình lai tạo giống đã được chứng minh làm tăng đến 81% lợi ích di truyền đối với một số đặc điểm và có sự gia tăng trung bình 33% trong độ chính xác giá trị giống so với phương pháp dựa vào kiểu hình thuần túy truyền thống (Nielson et al. 2009. Aquaculture Research 289 :. 259-264 & Nielson et al 2011. Journal of Animal Science 89: 630-638).

Hơn nữa, việc chọn lọc bộ gien mang lại nhiều khả năng nhất trong việc lựa chọn các đặc điểm mà không thể đo lường trực tiếp trên các giống tôm tiềm năng (như khả năng chống chịu bệnh, chất lượng thịt và tỷ lệ chuyển đổi thức ăn), vì việc chọn lọc bộ gien nắm bắt được cả các thành phần gia đình trong và giữa các biến trạng gien. Phương pháp tích hợp các chọn lọc gien vào các chương trình lai tạo tôm giống, đặc biệt là những phương pháp kết hợp các đặc điểm kháng bệnh và sinh lý học, hứa hẹn sẽ tăng nhanh chóng các lợi ích di truyền hơn so với việc chọn lọc kiểu hình truyền thống.


Mẫu tôm sú để phân tích AND (nhà nghiên cứu Quyen Quyen Banh và Tansyn Noble).

Trung tâm ARC sẽ mang lại gì cho ngành nuôi tôm của Úc

Các hoạt động cho Trung tâm ARC đối với Chương trình lai tạo giống tôm tiên tiến thuộc 5 đề tài nghiên cứu, mỗi đề tài trong số đó hoặc là chuyển giao kiến thức nền tảng, hoặc các công cụ di truyền để đạt được các mục tiêu bao quát của việc chọn lọc gien. Những đề tài khoa học bao gồm:

Sản xuất giống bố mẹ thuần – Đối với bất kỳ chương trình nhân giống nào, để thành công cần phải có một nguồn tôm bố mẹ đáng tin cậy. Khi làm việc với các nhân viên Seafarms, phương pháp nuôi tiên tiến sẽ được sử dụng để sản xuất số lượng lớn tôm bố mẹ thuần. Đó là một mục tiêu chính của Trung tâm ARC tạo nên rất nhiều các dòng tôm thuần với các số liệu về kiểu hình và bộ gien bao quát có thể trở thành nguồn giống cơ bản cho chương trình chọn lọc tương lai của Seafarms.

Phác thảo bộ gien tôm – Kiến thức về cấu trúc gien của tôm sú có thể cung cấp thông tin cần thiết cho sự phát triển các bản đồ di truyền và chương trình nhân giống gien tiên tiến, cùng với việc cung cấp khả năng để hiểu rõ hơn về chức năng của các gien liên quan đến các đặc điểm thương mại quan trọng. Trung tâm ARC đang sử dụng sự kết hợp của công nghệ giải trình tự thế hệ mới nhất để tạo nên một bộ gien phác thảo, và hệ phiên mã mô cụ thể. Trung tâm cũng sẽ áp dụng phương pháp lập bản đồ so sánh bộ gien của tôm sú với các loài giáp xác khác để tinh chỉnh thêm bộ gien phác thảo. Mục đích là tạo nên bộ gien tôm toàn diện nhất cho đến nay.

Sản xuất các nguồn tài nguyên di truyền – Việc hiểu về cấu trúc gien và cấu trúc di truyền đặc điểm là một điều kiện tiên quyết quan trọng của bất kỳ chương trình chọn giống tiên tiến nào. Trung tâm ARC sẽ tạo ra nguồn gien mở rộng toàn diện cho tôm sú sử dụng phương pháp kiểu gien theo trình tự. Cách tiếp cận này sẽ xác định hơn 50.000 marker hiện tượng nhiều hình thái nu-clê-ô-tít đơn (SNP), trong đó, thông qua việc sử dụng các dữ liệu phả hệ, sẽ gắn liền với bản đồ liên kết di truyền. Những marker này sẽ tạo cơ sở cho việc dự đoán giá trị giống di truyền của một cá thể khi tương quan với thông tin về kiểu hình.

Việc thu thập các dữ liệu kiểu hình và sự phát triển của các công nghệ thu nhận kiểu hình nhiều đặc điểm

Các chương trình nhân giống tôm đòi hỏi việc thu thập các hồ sơ kiểu hình từ hàng chục ngàn cá thể tôm mỗi thế hệ. Ngay cả đối với một đặc điểm duy nhất, việc này cần một sự đầu tư rất lớn lao động để thu thập đủ số lượng dữ liệu nhằm đưa ra quyết định lựa chọn đáng tin cậy. Kết quả là các chương trình cải thiện tôm giống thường bị hạn chế trong việc chọn lọc tăng trưởng, sự tồn tại và khả năng kháng bệnh.

Tôm trong quá trình đặt kiểu hình nhuộm màu

Một trong những mục tiêu chính của Trung tâm ARC là thu thập dữ liệu kiểu hình trên quy mô công nghiệp cho rất nhiều đặc điểm đồng thời sử dụng các phương pháp tự động. Như vậy, các nhà nghiên cứu đã phát triển phần mềm để ước tính trọng lượng và thông số về cơ thể tôm từ hình ảnh kỹ thuật số và cũng đang thử nghiệm quang phổ học hồng ngoại (NIRS) để xác định nhanh chóng kiểu hình tôm với những đặc điểm sinh hóa quan trọng như hàm lượng protein và axit béo omega-3.

Ước lượng tham số di truyền và chọn lọc gien

Cuối cùng Trung tâm ARC nhằm mục đích lần đầu tiên thực hiện lựa chọn gien ở tôm sú. Để làm điều này, tất cả phả hệ, thông tin di truyền và kiểu hình thu thập trong suốt các chương trình nghiên cứu sẽ được tích hợp sử dụng một cơ sở dữ liệu xây dựng có mục đích, liên kết bộ gien với hệ tính trạng, và các thuật toán dự báo ước tính giá trị lai tạo bộ gien của một cá thể. Trung tâm ARC sẽ xác nhận các thuật toán dự báo trong thế giới thực, cung cấp chương trình lai chọn tạo giống đa tính trạng tiên tiến nhất trên thế giới đối với loài tôm. tag: thuoc thuy san

Triển vọng

Việc lai tạo tôm giống tiên tiến của Trung tâm ARC đã được tiến hành trong một năm rưỡi, trong thời gian đó các nhà nghiên cứu đã lấy mẫu và lấy kiểu hình của hơn 22.000 con tôm từ 130 họ thu hoạch từ các ao nuôi thương mại Seafarms. ADN đã được lấy để phân tích nguồn gốc và bộ gien, trong khi tại cùng một thời điểm tôm đã được lấy mẫu để thử nghiệm khả năng chống chịu vi-rút (GAV) và khả năng chịu stress. Về tổng thể, người ta dự đoán rằng khoảng 35.000 con tôm sẽ được sẽ được xác định kiểu hình và kiểu gien để thiết lập các thuật toán dự đoán cần thiết cho việc chọn lọc bộ gien.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phat-huy-tiem-nang-di-truyen-cua-tom-su-58575507e4951958768b456d.html

Dùng Lá Mắm Nuôi Tôm

Người dân Cà Mau nói riêng, vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói chung, không còn xa lạ gì với cây mắm- một loài cây tiên phong lấn biển và “có công rất lớn” trong việc hình thành và phát triển rừng ngập mặn. Thời gian gần đây, cây mắm còn được phát hiện là loài cây có thể làm thức ăn cho tôm sú… Tuy nhiên, vấn đề này cũng cần được xem xét và có những đánh giá nghiêm túc…

Dùng Lá Mắm Nuôi Tôm

Bên cạnh sự hiện diện của các mô hình nuôi tôm sú cho năng suất cao như: công nghiệp, bán công nghiệp, quảng canh cải tiến… thời gian qua, nhiều chủ vuông tôm ở Cà Mau có cách nuôi tôm hơi “lạ đời”: lấy lá mắm làm thức ăn cho tôm. Cách làm ấy đã và đang giúp cho nhiều hộ nông dân ở địa phương này nhanh chóng vươn lên khá, giàu.

Lấy cây mắm cho… tôm ăn

Chúng tôi về vùng nuôi tôm rộng lớn ở rừng ngập mặn huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau, đúng vào ngày con nước xổ tôm (30 âm lịch). Trên khắp cánh đồng tôm nơi đây, nhiều vuông được xổ nước, để lộ nhiều bụi chà dưới đáy, có bụi vẫn còn xanh lá. Chỉ tay về những vuông tôm có nhiều đống chà, Bắc-một người bạn địa phương đi cùng với tôi, cho biết: “Đó là những nhánh mắm. Nhiều hộ nuôi tôm vùng này thường chặt những nhánh tươi làm thức ăn cho tôm. Vậy mà hộ nào cũng trúng “bể tay”…

Tôi rủ Bắc rẽ vào một đồng tôm, nơi có 3 cha con ông Hai Bông (Nguyễn Văn Bông), ở ấp Xóm Lớn Trong, xã Hàng Vịnh, đang chặt từng nhánh mắm non, quăng xuống vuông tôm với khoảng cách chừng 4m/nhánh. Trong khi tôi còn đang trố mắt nhìn, ông Hai Bông lý giải: “Chừng nửa tháng, cha con tôi lại đốn nhánh mắm quăng vào vuông tôm một lần. Nó vừa làm thức ăn cho tôm, vừa giúp cải thiện môi trường nước. Sau khi ăn hết lá và vỏ cây mắm, các nhánh mắm khô sẽ được tôi gom lại thành đống chà, làm chỗ cho tôm, cua trú ngụ, trốn kẻ thù khi lột xác. Cách làm này đã được tôi thực hiện hơn 14 năm qua. Nhờ vậy, mỗi con nước xổ, vuông tôm nhà tôi cũng đều đặn thu năm bảy triệu đồng, có khi lên đến vài chục triệu”.

Là dân “bản địa” xứ Cà Mau, tôi đã được nghe nhiều về cách thức nuôi tôm. Chẳng hạn như: nuôi quảng canh truyền thống, sau khi sên vét vuông tôm, chủ vuông chỉ lựa giống tốt về thả nuôi, chờ đến ngày thu hoạch. Trong suốt thời gian nuôi, thường chủ vuông không cho tôm ăn. Các cách nuôi quảng canh cải tiến, nuôi công nghiệp, ngoài việc chuẩn bị đầm nuôi thật tốt, bón phân vi sinh gây màu nước, chọn giống sạch bệnh,… trong suốt quá trình nuôi, chủ vuông phải cho tôm ăn hoặc cho ăn bổ sung. Riêng cách lấy nhánh mắm làm thức ăn cho tôm như cha con ông Hai Bông quả là mới lạ.

Nói về cách nuôi tôm “lạ đời này”, ông Hai Bông lý giải: “Con cá dứa nhờ ăn trái mắm mà nó béo ngậy, thịt thơm ngon. Còn thời chiến tranh, thiếu lương thực, bộ đội ta ăn trái mắm thay cơm, rồi nhiều cụ già ăn lá mắm thay trầu,… Tôi nghĩ, cái gì con người ăn được, cá ăn được thì con tôm nó cũng ăn được. Vậy là tôi làm”. Anh Sáu Nở, con trai ông Hai Bông, cưới vợ, ra riêng hơn 6 năm nay, được ông cho 2ha đất nuôi tôm. Nhờ học hỏi cách làm của cha nên vuông tôm nhà anh Sáu Nở trước giờ ít gặp rủi ro, mỗi con nước xổ, trung bình từ 3-4 triệu đồng. Anh tâm sự: “Không ít hộ vùng này ban đầu cho cách làm của cha tôi là kỳ quặc. Về sau, thấy nhà tôi trúng tôm nên tìm đến học hỏi, làm theo. Vậy là, mỗi con nước xổ tôm, họ trúng đậm…”. Anh Nguyễn Thiện Thực, Trưởng ấp Xóm Lớn Trong, cho biết: “Cũng học theo cách làm của chú Hai (ông Hai Bông), khá nhiều hộ dân vùng này liên tục trúng tôm, cua… rồi giàu lên. Bản thân tôi cũng học cách làm của chú ấy, dù không trúng lắm nhưng con nước xổ bán tôm cũng đều đều thu về năm bảy triệu đồng”.

Kỹ sư Nguyễn Công Quốc, Trưởng phòng Quản lý nuôi, Chi cục Nuôi trồng thủy sản tỉnh Cà Mau, cho biết: “Năm 2007, một nhóm nông dân ở ấp Mỹ Bình, xã Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, đã có cách làm tương tự. Trong khi cải tạo vuông, họ lấy trái mắm tươi rãi xuống trảng bùn. Khi những trái mắm mọc rễ, phát triển thành cây non, họ cho nước vào. Đến khi cây mắm cao khoảng 5 tấc, họ chặt ngang thân cây, để lá và thân mắm non phân hủy làm thức ăn cho tôm sú. Theo họ, thực hiện theo cách này còn giúp cải thiện màu nước trong vuông tôm được tốt hơn. Nhờ vậy, đa phần hộ nuôi tôm theo cách này đều đạt kết quả tốt, tôm khỏe mạnh, mau lớn”.

Và… cảnh báo

Cho đến nay, chưa biết chính xác từ khi nào, người dân Cà Mau lấy cây mắm làm thức ăn cho tôm, nhưng hiệu quả từ cách làm này đã được nhiều chủ vuông tôm ở Cà Mau như xã Tam Giang Tây (huyện Ngọc Hiển), Hàng Vịnh (huyện Năm Căn), xã Phú Tân (huyện Phú Tân) các xã Tân Thuận, Tân Tiến (huyện Đầm Dơi) áp dụng. Ông Ngô Minh Dọn, Tổ trưởng Tổ hợp tác nuôi trồng thủy sản ấp Kinh Ranh, xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển, cho biết: “Tổ hợp tác đang áp dụng mô hình nuôi tôm theo hình thức quảng canh cải tiến cho năng suất cao. Mật độ tôm nuôi dày hơn nên phải cho ăn bổ sung bằng thức ăn công nghiệp khi tôm từ 2 tháng tuổi trở lên. Trong giai đoạn đầu (tôm từ 1-2 tháng tuổi), chúng tôi vẫn làm theo cách cũ là lấy nhánh mắm non cho tôm ăn. Tuy chưa biết hiệu quả như thế nào nhưng tôm đang phát triển rất tốt”.

Trước cách lấy cây mắm làm thức ăn cho tôm của nhiều hộ nuôi tôm ở Cà Mau, ngành chức năng Cà Mau đã gởi mẫu nước trong vuông tôm của một số hộ có thả nhánh mắm lên Khoa Nuôi trồng thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ, để tìm hiểu. Kỹ sư Nguyễn Công Quốc, Trưởng phòng Quản lý nuôi, Chi cục Nuôi trồng thủy sản tỉnh Cà Mau, cho biết: “Theo kết quả phân tích mẫu nước đã gởi cho thấy, vỏ và lá mắm sau khi cho vào vuông tôm có độ mặn từ 10 phần ngàn trở lên, sau khoảng 5-7 ngày sẽ bị phân hủy, tiết ra một số chất nhờn. Chất nhờn này là thức ăn chính của nhiều ấu trùng và nhiều loài vi sinh vật, mà đa số những loài này đều là thức ăn có lợi cho tôm nuôi. Ngoài ra, trong lá mắm còn có một lượng đạm cố định và một phần men tiêu hóa, tăng cường hệ tiêu hóa cho tôm, giúp tôm phát triển tốt”.

Vừa qua, Trường Đại học Cần Thơ đã tiến hành một cuộc khảo nghiệm nhỏ trên bể composite, trong môi trường có sục khí oxy nhằm phân tích ảnh hưởng của các loại lá rừng, như: đước, giá, mắm… đối với môi trường nước và nuôi tôm. Kết quả từ cuộc khảo nghiệm này, Phó Giáo sư – Tiến sĩ Trần Ngọc Hải, Trưởng bộ môn Kỹ thuật nuôi hải sản, Khoa Nuôi trồng thủy sản, khẳng định: Lá mắm có hàm lượng đạm cao hơn so với những loại lá rừng khác và phân hủy rất nhanh (3-5 ngày). Khi cho vào nước, lượng đạm trong lá mắm sẽ tăng lên nhiều do vi khuẩn phân hủy và làm thức ăn tốt cho tôm nuôi. Do có hàm lượng đạm cao nên lá mắm như một nguồn phân xanh, giúp cải thiện được màu nước trong vuông tôm và tạo điều kiện tốt cho nhiều loài tảo có lợi cho tôm sinh sản và phát triển. Tuy nhiên, Phó Giáo sư-Tiến sĩ Trần Ngọc Hải, cảnh báo: “Lá mắm như con dao hai lưỡi, vừa có lợi nhưng cũng vừa có hại cho môi trường tôm nuôi. Bởi lẽ, nếu thả nhánh mắm với mật độ quá dày, lượng oxy hòa tan trong nước sẽ giảm đi, môi trường tôm nuôi sẽ bị ô nhiễm. Song, mật độ thả thế nào, bao nhiêu thì cần có công trình nghiên cứu rộng và sâu hơn”.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/dung-la-mam-nuoi-tom-3965.html

Kinh Nghiệm Thả Tôm Giống

Trong nuôi tôm, ít người chú ý đến kỹ thuật thả tôm vì đơn giản họ nghĩ rằng thả tôm như thế nào cũng không ảnh hưởng đến sự sống của tôm. Thực tế không phải như vậy, kỹ thuật thả tôm rất quan trọng đến sự thích nghi và sức khỏe của tôm sau khi được chuyển từ môi trường này đến môi trường khác.

Kinh Nghiệm Thả Tôm Giống

Mật độ nuôi:

Nếu diện tích ruộng nuôi từ 0,5-1,0ha thì thả 3-4 con/m vuông. Diện tích nhỏ hơn 0,5ha thì thả 5-10 con/m vuông.

Phương pháp thả giống:

Thả giống đúng kỹ thuật sẽ góp phần tăng tỷ lệ sống của đàn tôm. Nên thả tôm vào lúc sáng sớm hay chiều mát. Không nên thả tôm vào lúc trời mưa hay trong điều kiện môi trường ao nuôi chưa thích hợp. Thả tôm vào đầu hướng gió để tôm dễ phân tán khắp ao. Có 2 cách thả tôm tốt như sau:

Cách 1: Các bọc tôm mới chuyển về được thả trên mặt ao trong khoảng 10-15 phút để cân bằng nhiệt độ trong và ngoài bọc, sau đó mở bọc cho tôm bơi ra từ từ. Phương pháp này áp dụng cho trường hợp độ mặn của nước trong và ngoài bọc tôm chênh lệch nhau không quá 5 phần ngàn. Cần làm cầu gần mặt nước để có thể mở bọc thả tôm dễ dàng, tránh lội xuống làm đục nước ao.

Cách 2: Thường áp dụng cho trường hợp độ mặn của nước trong bọc tôm và độ mặn của nước ao chênh lệch quá 5 phần ngàn. Tôm mới chuyển về cần một thời gian thuần hóa ngay tại ao để tôm thích nghi dần với độ mặn của nước ao và các yếu tố môi trường khác. Cần chuẩn bị một số thau lớn dung tích khoảng 20 lít và máy sục khí. Đổ các bọc tôm vào thau, khoảng 10.000 con/thau và sục khí. Cho thêm nước ao vào thau từ từ để tôm thích nghi dần. Sau 10-15 phút nghiêng thau cho tôm bơi ra từ từ. Có thể ước lượng tỷ lệ sống của đàn tôm bằng cách dùng lưới vào diện tích 2-3 m vuông và sâu 1m đặt ngay trong ao, thả vào lưới 1.000 – 2.000 tôm bột, cho tôm ăn bình thường. Sau 3-5 ngày kéo lưới vèo lên đếm và xác định ỷ lệ tôm còn lại.

Một số dấu hiệu cho thấy tôm khỏe và thích nghi với môi trường ao nuôi là không có tôm chết khi thuần trong thau, tôm bơi lội linh hoạt, bám thành thau. Tôm sau khi thả xuống ao thì bơi chìm xuống đáy ao, không bám theo mí nước, không nổi trên mặt nước.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/kinh-nghiem-tha-tom-giong-3966.html

Đặc Điểm Sinh Học Và Sinh Thái Của Tôm Sú

Đặc Điểm Sinh Học Và Sinh Thái Của Tôm Sú

PHÂN LOÀI

Tôm sú (Tên tiếng Anh:  Giant/Black Tiger Prawn) được định loại là:

Ngành: Arthropoda

Lớp: Crustacea

Bộ: Decapoda

Họ chung: Penaeidea

Họ: Penaeus Fabricius

Giống: Penaeus

Loài: Monodon

Tên khoa học: Penaeus monodon Fabricius

CẤU TẠO

Nhìn từ bên ngoài, tôm gồm các bộ phận sau:

chủy: dạng như lưỡi kiếm, cứng, có răng cưa. Với tôm sú, phía trên chủy có 7-8 răng và dưới chủy có 3 răng.

mũi khứu giác và râu: cơ quan nhận biết và giữ thăng bằng cho tôm

3 cặp chân hàm: lấy thức ăn và bơi lội

5 cặp chân ngực: lấy thức ăn và bò

cặp chân bụng: bơi

đuôi: có 1 cặp chân đuôi để tôm có thể nhảy xa, điều chỉnh bơi lên cao hay xuống thấp.

bộ phận sinh dục (nằm dưới  bụng)

Tôm sú thuộc loại dị hình phái tính, con cái có kích thước to hơn con đực. Khi  tôm trưởng thành phân biệt rõ đực cái, thông qua cơ quan sinh dục phụ bên ngoài.

Con đực: cơ quan sinh dục chính của con đực nằm ở phía trong phần đầu ngực, bên ngoài có cơ quan giao phối phụ nằm ở nhánh ngoài đôi chân ngực thứ 2, lỗ sinh dục đực mở ra hốc háng đôi chân ngực thứ 5. Tinh trùng thuộc dạng chứa trong túi.

Con cái: Buồng trứng nằm dọc theo mặt lưng phía trên, hai ống dẫn trứng mở ra ở khớp háng đôi chân ngực thứ 3. Bộ phận chứa túi tinh gồm 2 tấm phồng lên ở đôi chân ngực thứ 4 và thứ 5 dưới bụng tôm.

PHÂN BỐ

Phạm vi phân bố của tôm sú khá rộng, từ ấn Độ Dương qua hướng Nhật Bản, Đài Loan, phía Đông Tahiti, phía Nam châu Úc và phía Tây châu Phi (Racek – 1955, Holthuis và Rosa – 1965, Motoh – 1981, 1985) Nhìn chung, tôm sú phân bố từ kinh độ 30E đến 155E từ vĩ độ 35N tới 35S xung quanh các nước vùng xích đạo, đặc biệt là Indonesia, Malaixia, Philippines và Việt Nam.

Tôm bột (PL.), tôm giống (Juvenile) và tôm gần trưởng thành có tập tính sống gần bờ biển và rừng ngập mặn ven bờ. Khi tôm trưởng thánh di chuyển xa bờ vì chúng thích sống vùng nước sâu hơn.
Chu kì sống của tôm sú

Các giai đoạn phát triển ấu trùng tôm sú :

Nauplli: 6 giai đoạn: 36-51 giờ, các Nauplli bơi từng đoạn ngắn rồi nghỉ, lột vỏ 4 lần, mỗi lần khoảng 7 giờ, tự sống bằng noãn hoàng, không cần cho ăn

N1: dài khoảng 0.40mm, dày 0.20mm

N2: dài khoảng 0.45mm, dày 0.20mm

N3: dài khoảng 0.49mm, dày 0.20mm

N4: dài khoảng 0.55mm, dày 0.20mm

N5: dài khoảng 0.61mm, dày 0.20mm

Zoea: 3 giai đoạn: 105-120 giờ

, các Zoea bơi liên tục gần mặt nước, lột vỏ 2 lần, mỗi lần khoảng 36 giờ, ăn thực vất phiêu sinh.

Z1: dài khoảng 1mm, dày 0.45mm, xuất hiện hai phần dầu và bụng rõ rệt.

Z2: dài khoảng 1.9mm, xuất hiện mặt và chủy.

Z3: dài khoảng 2.7mm, xuất hiện gai trên bụng.

Mysis: 3 giai đoạn : 72 giờ, các Mysis bơi hướng xuống sâu, đuôi đi trước, đầu đi sau.

M1: dài khoảng 3.4mm, có hình dạng của tôm trưởng thành, xuất hiện các cặp chân bụng, đuôi và quạt đuôi, các gai bụng thu nhỏ lại.

M2: dài khoảng 4.0mm.

M3: dài khoảng 4.4mm, chân bụng dài hơn, phân thành đốt nhỏ, xuất hiện răng trên chủy.

Postlarvae: giai đoạn gần trưởng thành

Juvenile: giai đoạn trưởng thành.

Tuổi thành thục: tuổi thành thục sinh dục của tôm đực và tôm cái từ tháng thứ 8 trở đi. Xác định sự thành thục của tôm cái dễ hơn, chỉ cần quan sát có túi tinh ở cơ quan sinh dục phụ. Phương pháp xác định thành thục ở con đực khó hơn, chỉ khi nào tìm thấy được tinh trùng ở cuối ống dẫn tinh. Thường dựa vào trọng lượng để xác định khi con đực nặng từ 50g trở lên.

Hormone điều khiển sự thành thục sinh dục (GIH, gonal inhibiting hormone)   được sản xuất bởi tế bào thần kinh trong cơ quan X của cuống mắt, vận chuyển tới tuyến giáp sinap đưa vào kho dự trữ và khi cần thì tiết ra. Sự thành thục sinh dục của tôm sú thông qua tác động của tuyến nội tiết, khi cắt mắt tức là thúc đẩy chu kỳ lộ xác, đem lại sự thành thục mau chóng hơn.

Số lượng trứng đẻ của tôm cái: nhiều hay ít là phụ thuộc vào chất lượng buồng trứng và trọng lượng cá thể: trọng lượng lớn cho trứng nhiều hơn. Khi con cái thành thục ngoài tự nhiên có trọng lượng từ 100-300g cho 300.000 -1.200.000 trứng. Nếu cắt mắt nuôi vỗ trong bể xi măng, thành thục và đẻ, cho số lượng trứng từ 200.000- 600.000 trứng.

Tôm cái đẻ trứng vào ban đêm (thường từ 22 giờ đến 2 giờ) trứng sau khi đẻ được 14-15 giờ, ở nhiệt độ 27-28C sẽ nở thành ấu trùng (Nauplii).  Tôm sú đẻ quanh năm, nhưng tập trung vào hai thời kỳ chính: tháng 3-4 và tháng 7-10.

Tuổi thọ tôm sú con đực khoảng 1,5 năm, con cái chừng 2 năm.

TẬP TÍNH ĂN

Tôm sú là loại ăn tạp, thích các động vật sống và di chuyển chậm hơn là xác thối rữa hay mảnh vụn hữu cơ, đặc biệt ưa ăn giáp xác, thực vật dưới nước, mảnh vụn hữu cơ, giun nhiều tơ, loại 2 mảnh vỏ, côn trùng. Tôm sống ngoài tự nhiên ăn 85% là giáp xác, cua nhỏ, động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ, còn lại 15% là cá, giun nhiều tơ, thuỷ sinh vật, mảnh vụn hữu cơ, cát bùn.

Trong  tự nhiên, tôm sú bắt mồi nhiều hơn khi thuỷ triều rút. Nuôi tôm sú trong ao, hoạt động bắt mồi nhiều vào sáng sớm và chiều tối. Tôm bắt mồi bằng càng, sau đó đẩy thức ăn vào miệng để gặm, thời gian tiêu hoá 4-5 giờ trong dạ dày.

LỘT XÁC

Trong quá trình tăng trưởng, khi trọng lượng và kích thước tăng lên mức độ nhất định, tôm phải lột bỏ lớp vỏ cũ để lớn lên. Sự lột xác thường xảy ra vào ban đêm. Sự lột xác đi đôi với việc tăng thể trọng, cũng có trường hợp lột xác nhưng không tăng thể trọng.

Khi quan sát tôm nuôi trong bể, hiện tượng lột xác xảy ra như sau: Lớp   biểu bì giữa khớp đầu ngực và phần bụng nứt ra, các phần phụ của đầu ngực rút ra trước, theo sau là phần bụng và các phần phụ phía sau, rút ra khỏi lớp vỏ cứng, với động tác uốn cong mình toàn cơ thể. Lớp vỏ mới mềm sẽ cứng lại sau 1-2 giờ với tôm nhỏ, 1-2 ngày đối với tôm lớn.  Tôm sau khi mới lột xác, vỏ còn mềm nên rất nhạy cảm với môi trường sống thay đổi đột ngột. Trong quá trình nuôi tôm, thông qua hiện tượng này, có thể điều chỉnh môi trường nuôi kịp thời.

Hormone hạn chế sự lột xác lột xác (MIH, molt – inhibiting hormone) được tiết ra do các tế bào trong cơ quan của cuống mắt, truyền theo sợi trục tuyến xoang, chúng tích luỹ  lại và chuyển vào trong máu, nhằm kiểm tra chặt chẽ sự lột xác.  Các yếu tố bên ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn, điều này có ảnh hưởng tới tôm đang lột xác.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/dac-diem-sinh-hoc-va-sinh-thai-cua-tom-su-4108.html

Cắt Cuống Mắt Để Kích Thích Tôm Đẻ

Cuống mắt tôm giống như một cái máy phát ra tín hiệu hóa học ngăn cản sự sinh sản. Vì vậy, cắt cuống mắt sẽ kích thích tôm đẻ nhiều.

Cắt Cuống Mắt Để Kích Thích Tôm Đẻ

Trong tự nhiên, tôm cái trưởng thành giao vĩ ngay sau khi lột xác. Chúng chứa tinh của tôm đực trong nang lưu tinh cho đến khi đẻ trứng. Sau đó, buồng trứng mới phát triển và tôm đẻ.

Vì sao phải cắt cuống mắt thì tôm mới đẻ?

Khi tôm chuyển từ tình trạng bình thường sang tình trạng sinh sản thì có sự thay đổi cơ bản về tương quan giữa hormon kích thích sinh sản và hormon ức chế các quá trình này. Trong đó hormon ức chế sự sinh sản được sản xuất tích tụ và phóng thích từ cuống mắt của tôm.

Như vậy cuống mắt tôm giống như một cái máy phát ra tín hiệu hoá học ngăn cản sự sinh sản. Vì vậy, cắt cuống mắt tôm cũng giống như tháo gỡ cái máy phát ra tín hiệu này. Nhờ thế mà sự phát triển của buồng trứng và đẻ trứng được giải tỏa. Buồng trứng phát triển liên tục và tôm đẻ.

Nghĩa là sau khi cắt cuống mắt, tôm đẻ cấp tập vài lần, (có khi tới năm lần). Tuy nhiên chất lượng mỗi lần sinh sản sau cũng giảm so với lần trước đó. Cho đến khi trên thực tế sự sinh sản của tôm không mang lại hiệu quả sinh học và hiệu quả kinh tế thì phải loại bỏ chúng. Đến nay có khoảng 20 loài tôm khác nhau được áp dụng thủ thuật cắt cuống mắt để kích thích sinh sản.

Phương pháp cắt cuống mắt

Để cắt cuống mắt cho tôm, người ta thường đốt, kẹp hoặc thắt cuống mắt của tôm mà không cắt rời ngay để tránh sự chảy máu (dịch cơ thể).

Ở Việt Nam, các nhà sản xuất tôm giống dùng dây cao su nhỏ (dây thun) thắt cuống mắt. Mắt bị thắt cuống có thể rụng sau đó nhưng dịch cơ thể không bị thất thoát.

Ngay sau khi cắt cuống mắt, cần theo dõi chặt chẽ sự phát triển của buồng trứng. Khi thấy buồng trứng đang ở giai đoạn IV thành thục, lập tức tôm được tách riêng vào bể đẻ.

Hạn chế

Tôm bị cắt cuống mắt chỉ đẻ ba đến năm lần và đời sống sinh sản cũng chấm dứt. Trong khi tôm ở ngoài tự nhiên không bị cắt cuống mắt và có thể đẻ nhiều lần hơn trong một khoảng thời gian dài, cho ra nhiều tôm con hơn. Vì vậy người ta đã nghiên cứu làm sao để có thể kích thích tôm đẻ mà không cần cắt cuống mắt.

Việc ứng dụng tiêm serotonin cho tôm cái đã được thực hiện và tỷ lệ tôm đẻ lần đầu là 35,4%, gấp sáu lần đối chứng. Tỷ lệ tôm đẻ tiếp trong lần hai là 6,7%. Tính chung, số tôm đẻ do được kích thích bằng serotonin gấp bảy lần so với đối chứng. Tỷ lệ tôm đẻ nhờ tiêm serotonin thấp hơn tôm được cắt cuống mắt.

Nhưng sau những lần đẻ dồn dập số tôm cắt cuống mắt không thể tiếp tục được dùng để sản xuất tôm giống. Trong khi những chú tôm đã đẻ nhờ serotonin vẫn tiếp tục sinh sản vì không bị lổn thương, nhờ thế mà người ta có thể kéo dài được tuổi thọ sinh sản của tôm

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cat-cuong-mat-de-kich-thich-tom-de-8620.html

Kích Thích Tôm Đẻ Không Cần Cắt Cuống Mắt

Một cách hình tượng, có thể coi cuống mắt của tôm cùng với một vài cấu trúc nội tiết khác như một hệ thống điều tiết nước chảy từ một hồ chứa. Việc cắt cuống mắt tương tự như phá đập để lấy nước.

Kích Thích Tôm Đẻ Không Cần Cắt Cuống Mắt

Lúc đầu thì nước chảy ồ ạt nhưng mức nước ở hồ sụt nhanh và mất khả năng điều tiết. Tôm cái bị cắt cuống mắt chỉ đẻ 3 -5 lần và đời sống sinh sản của nó chấm dứt ở đó. Tôm cái trong tự nhiên hẳn là không bị cắt cuống mắt và có thể đẻ nhiều lần hơn trong một khoảng thời gian dài, cho ra nhiều tôm con hơn. Một thí nghiệm gần đây trên loài tôm he chân trắng, là loài đến nay vẫn được cắt cuống mắt để kích thích sinh sản cho thấy, có thể kích thích đẻ mà không cần cắt cuống mắt.

Người ta tiêm Serotonin cho tôm cái và tỷ lệ tôm đẻ lần đầu là 35,4%, gấp 6 lần đối chứng. Tỷ lệ tôm đẻ tiếp trong lần hai là 6,7. Tính chung số tôm đẻ do được kích thích bằng serotonin gấp 7 lần so với đối chứng.

Tất nhiên là tỷ lệ tôm đẻ nhờ tiêm serotonin là thấp hơn tỷ lệ tôm đẻ do được cắt cuống mắt. Nhưng sau những lần đẻ dồn dập do được cắt cuống mắt thì những tôm như thế không thể tiếp tục được dùng để SX giống nữa. Trong khi ấy, chắc chắn những tôm đã đẻ nhờ serotonin vẫn có thể tiếp tục sinh sản vì không bị những tổn thương bất khả hồi. Kết quả nghiên cứu này rất khích lệ vì nhờ thế người ta có thể kéo dài được tuổi thọ sinh sản của tôm một cách đáng kể.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/kich-thich-tom-de-khong-can-cat-cuong-mat-8621.html

Phòng Và Trị Bệnh Mềm Vỏ Kinh Niên Ở Tôm

Bệnh mềm vỏ kinh niên là bệnh thường xảy ra trong các ao nuôi tôm thương phẩm. Biểu hiện của bệnh là sau khi lột xác, vỏ tôm không cứng lại được, vỏ thường bị nhăn nheo, dễ rách nát nên dễ bị cảm nhiễm của các tác nhân gây bệnh, tôm có vỏ mềm yếu, vùi mình dạt bờ. Có nhiều nguyên nhân gây ra hiện tượng mềm vỏ của tôm.

Phòng Và Trị Bệnh Mềm Vỏ Kinh Niên Ở Tôm

Do trong thức ăn dùng nuôi tôm thiếu chất khoáng hoặc thiếu một số vitamin, nhất là vitamin D thúc đẩy quá trình hấp thụ các chất khoáng. Cũng có thể thức ăn kém chất lượng, ôi thiu hoặc cho ăn thiếu.

Trong ao có nhiều chất độc, như các khí độc sinh ra do sự phân huỷ của các chất hữu cơ, chất độc sinh ra do tảo độc hoặc chất độc do nguồn nước thải công nghiệp, sinh hoạt đặc biệt là thuốc trừ sâu trong nông nghiệp.

Nuôi tôm trong điều kiện môi trường có nhiều biến động gây sốc làm rối loạn hoạt động trao đổi chất của tôm cũng gây ra mềm vỏ.

Từ nguyên nhân gây mềm vỏ như đã nêu ở trên, cần ngăn chăn hiện tượng này cần quan tâm đến vấn đề sau:

Dùng thức ăn có chất lượng tốt, có hàm lượng P: Ca là 1: 1. Bổ sung một lượng Vitamin tổng hợp, không nuôi mật độ quá cao.

Đảm bảo độ pH 7,5 đến 8,5 trong suốt quá trình nuôi.

Tránh nguồn nước thải công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt chảy vào ao nuôi, tránh hiện tượng tảo nở hoa gây biến động điều kiện môi trường.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phong-va-tri-benh-mem-vo-kinh-nien-o-tom-8622.html

Bệnh Thân Đỏ Đốm Trắng Ở Tôm Sú

Ở tôm sú, bệnh thường hay gặp nhất, khó ngăn ngừa và điều trị là bệnh thân đỏ đốm trắng. Theo các công trình nghiên cứu, tất cả các giai đoạn phát triển của tôm đều có thể nhiễm bệnh này. Giai đoạn phát triển mạnh nhất là từ tháng nuôi đầu tiên đến tháng nuôi thứ hai trong ao nuôi tôm thịt. Gây bệnh đốm trắng ở tôm sú do một loại virus có tên khoa học Systemic Ectodermal and Mesodorma Baculoviras (SEMBV).

Bệnh Thân Đỏ Đốm Trắng Ở Tôm Sú

Virus này nhiễm cảm ở một số mô của nhiều cơ quan khác nhau có nguồn gốc trung bì và ngoại bì như: mang, lớp biểu bì mô của vỏ, thần kinh, dạ dày và một số cơ quan khác trên con tôm. Trên thực tế, dù có phương pháp ngăn ngừa tốt như thế nào thì điều kiện tôm bị virus SEMBV vẫn tồn tại, đôi lúc người nuôi điều trị bằng thuốc và hóa chất cũng không ổn. Bởi vậy, việc có thể làm là ngăn chặn, tránh lây lan từ ao nuôi này sang ao nuôi khác.

Các kết quả nghiên cứu cho biết, hiện nay bệnh đốm trắng ở tôm sú có 3 nguyên nhân gây bệnh, đó là do nhiễm virus, do môi trường và nhiễm khuẩn. Tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng do môi trường và nhiễm khuẩn có thể xử lý, khắc phục được, còn tôm bị nhiễm bệnh do virus SEMBV thì chưa có biện pháp hữu hiệu để điều trị. Tôm sú bị nhiễm bệnh đốm trắng có những dấu hiệu như: tôm dạt vào bờ; trên thân tôm xuất hiện nhiều các đốm trắng tròn to, nhỏ khác nhau; khả năng tiêu thụ thức ăn bị giảm sút nghiêm trọng, đa phần tôm dạt vào bờ đều có ruột rỗng, không có thức ăn; tôm chết hàng loạt, có thể chết hết từ 5 – 7 ngày sau khi bị nhiễm bệnh.

Nhiều công trình nghiên cứu đã tìm ra các loại hóa chất để diệt virus SEMBV gây bệnh thân đỏ đốm trắng ở con tôm sú như: Formaline (70ppm), thuốc tím (10ppm), acid phoraccitic (8ppm)… Về nguyên tắc, nếu xử lý các loại hóa chất này xuống ao nuôi đang có tôm bị nhiễm bệnh thì có thể tiêu diệt được virus SEMBV, tôm bị nhiễm bệnh vẫn có thể nuôi cho đến khi thu hoạch. Nhưng trên thực tế, điều này rất tốn kém và không hiệu quả. Vì vậy, biện pháp phòng bệnh có vai trò rất quan trọng trong nuôi trồng.

Để phòng bệnh, ao trước khi đưa vào nuôi phải được tẩy dọn kỹ, vét sạch chất thải từ vụ nuôi trước để lại, phơi đáy ao từ 5 – 7 ngày, dùng Fomaline để tẩy diệt virus trong ao và các mầm bệnh khác; chọn tôm giống khỏe bằng phương pháp PCR; không thay nước trực tiếp từ biển, mỗi ao nuôi cần phải có một ao chứa nước riêng biệt, trước khi đưa vào nuôi phải được xử lý bằng Fomaline 10ml/m3 hay Clorine 10 – 15ml/m3 ngay trong ao chứa; hàm lượng oxy hòa tan phải lớn hơn 3mg/l, độ pH từ 7,5 – 8,5; ngăn chặn và loại bỏ tất cả các loài giáp xác trong ao nuôi và trong ao chứa bằng biện pháp tẩy dọn, diệt tạp và lọc nước kỹ trước khi đưa vào ao; giữ nền đáy ao sạch sẽ trong suốt chu kỳ nuôi và cho thức ăn tổng hợp có bổ sung một lượng vitamin C từ 2 – 4g/kg thức ăn để tăng sức đề kháng cho tôm.

Nếu phát hiện tôm bị nhiễm bệnh thân đỏ đốm trắng do nhiễm virus, trong trường hợp tôm đã đạt kích cỡ thương phẩm thì nên thu hoạch ngay, sau đó dùng Fomaline hay Clorine liều cao để xử lý nước trong ao trước khi xả ra môi trường. Trong trường hợp tôm chưa đạt kích cỡ thương phẩm thì nên dùng Fomaline phun trực tiếp xuống ao với nồng độ từ 15 – 30ml/m3 để tiêu diệt virus tự do ngoài môi trường và tiêu diệt luôn cả những con tôm bị nhiễm virus, sau đó cần xử lý tôm chết và tiến hành thay nước sạch. Khi tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng do độ pH cao thì có thể tìm mọi cách làm giảm độ pH cho phù hợp từ 7,5 – 8,5 như: thay nước mới, dùng Fomaline với nồng độ từ 3 – 4 (ppm), dùng vôi để ổn định độ pH nước trong ao nuôi.

Trong trường hợp tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng do cảm nhiễm vi khuẩn thì biện pháp khắc phục duy nhất là thu gom tôm chết, tôm yếu dạt vào bờ; cải thiện ao nuôi bằng cách làm sạch đáy bằng máy sục khí và ổn định sự phát triển của tảo; dùng Fomaline có nồng độ từ 10 – 15ml/m3 phun xuống ao để tiêu diệt vi khuẩn ngoài môi trường, sau 12 giờ tiến hành thay nước sạch và cho tôm ăn liên tục 5 ngày kết hợp với kháng sinh Furazolidon hoặc Oxytetracylin với liều lượng 40 – 50mg/kg tôm/ngày.

Ngày nay, để phát hiện tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng, người ta thường dùng phương pháp kiểm tra bằng máy PCR theo từng thời kỳ. Nếu máy cho kết quả (+) thì ao nuôi đã bị nhiễm bệnh, kết quả (-) thì ao nuôi đang trong thời kỳ an toàn. Khi phát hiện ra tôm bị nhiễm bệnh đốm trắng, điều vô cùng quan trọng là phải có biện pháp ngăn chặn, không cho lây sang các ao khác. Biện pháp này sẽ giảm được thiệt hại rất nhiều đối với nghề nuôi tôm sú.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/benh-than-do-dom-trang-o-tom-su-1-8623.html

Qui Trình Công Nghệ Nuôi Tôm Sú Công Nghiệp

1. Chuẩn bị ao lắng

Nước mặn / lợ được đưa vào ao lắng, trữ lắng 7-10 ngày, sát trùng, diệt mầm bệnh bằng clorin 15-30ppm (theo qui trình sử dụng clorin).

Qui Trình Công Nghệ Nuôi Tôm Sú Công Nghiệp

2. Chuẩn bị ao nuôi

1.1 Cải tạo ao: Tháo cạn nước trong ao, cạo bỏ bùn và bã hữu cơ đáy ao sang khu vực chờ xử lý, rửa sạch nền đáy, cầy lật rồi san bằng đáy.

1.2. Sát trùng đáy ao bằng vôi bột với liều lượng thích hợp tùy theo pH đất đáy ao, phơi khô khoảng 1 tuần (nhưng không được phơi quá nắng đến mức nứt nẻ đất)

1.3. Kiểm tra, bảo trì hệ thống quạt nước và hệ thống cung cấp oxy.

1.3. Lấy nước đã xử lý từ ao lắng vào ao nuôi (nên qua túi lọc), chiều cao nước: 0,8-1,2m.

3. Gây màu nước (tạo nguồn thức ăn tự nhiên trong ao)

Trước khi thả tôm giống 7 ngày, sử dụng phân DAP và bột dinh dưỡng (đậu nành…) hoà với nước và  bón ao hàng ngày đến khi đạt độ trong 0,3-0,4m.

4. Thả tôm giống:

Sau giai  chuẩn bị, khi các chỉ tiêu pH, độ mặn, độ trong, màu nước… đạt yêu cầu, có thể thả tôm giống. Post thả nên chọn loại Pl15-Pl20, cần thuần hoá tôm giống để thích nghi với nuớc trong ao trong vòng 1-3 giờ . Tôm giống mới vận chuyển về nên thả túi xuống ao chừng 15-30 phút để nhiệt độ giữa nước trong túi tôm và nhiệt độ nước trong ao cân bằng. Sau đó nên đổ các túi tôm vào thau, tránh để tôm dính lại trong túi, múc nước ao pha vào thau dần dần, mỗi lần 1 ít. Vừa pha vừa quan sát tôm đã thích nghi được thì thả vào ao nuôi. Tôm chưa thích nghi khi thả ra thường bơi nổi trên mặt nước, vẻ yếu ớt.

Đứng ở đầu hướng gió, thả tôm giống ra từ từ, tránh làm đục nước ao. Sau khi thả xong quan sát khả năng phân tán của tôm trong ao nuôi, nếu tôm tụ lại từng đám thì dùng tay hoặc thau khua nước nhè nhẹ để phân tán tôm đều trong ao.

Sau khi thả tôm xong, cần theo dõi hàng ngày để tính tỉ lệ sống, xác định lượng tôm có trong ao để điều chỉnh thức ăn khi nuôi.

Nên thả tôm lúc thời tiết mát mẻ, tốt nhất là thời điểm từ 5-7 giờ sáng hoặc 4 – 6 giờ chiều. Không nên thả tôm lúc trời sắp mưa hoặc đang mưa to.

Mật độ thả tuỳ phương thức nuôi: quảng canh cải tiến (dưới 5 con/m2), bán thâm canh (10 – 20 con/ m2 ), thâm canh (trên 25 con/ m2) ngoài ra còn thùy thuôc vào kích cỡ tôm thả nuôi, mùa vụ sản xuất.

5. Chăm sóc ao nuôi tôm

5.1. Cho ăn: nhà cung cấp thức ăn phải cung cấp cho bạn bảng hướng dẫn cho ăn, trong đó gồm:
số lần cho ăn trong ngày
tỉ lệ thức ăn theo các bữa trong ngày
lượng  thức ăn tỉ lệ theo tuổi và trọng lượng của tôm
tỉ lệ thức ăn cho vào vó (sàng ăn).
thời gian kiểm tra vó sau khi cho ăn.

Có thể sử dụng thêm các thức ăn tăng cường sinh trưởng cho tôm phối trộn chung với thức ăn.

Lưu ý cho tôm ăn tránh các khu vực dơ trong ao, khi tôm lột vỏ nhiều nên giảm lượng thức ăn, khi tôm yếu / bệnh  hoặc nước trong ao bẩn/ đục cũng nên giảm bớt lượng thức ăn.

5.2. Kiểm tra tôm:
Thường xuyên quan sát tôm, nhất là vào ban đêm, theo dõi để phát hiện những bất thường.
Quan sát màu sắc.
Kiểm tra các bộ phụ: chân, râu, …
Kiểm tra mang
Kiểm tra thức ăn trong hệ tiêu hoá
Kiểm tra cường độ bắt mồi và các hành vi khác của tôm.
Xét nghiệm vi khuẩn, PCR  định kì.
Chài tôm để kiểm tra trọng lượng trung bình của tôm, theo dõi sự tăng trọng của tôm và tính toán lượng thức ăn phù hợp. Theo Việt Linh nên chài tôm vào lúc trời mát sáng sớm hoặc chiều 4-6g)

5.3 Kiểm tra nước:
Kiểm tra pH: 2 lần/ngày (sáng, chiều)
Kiểm tra độ trong của nước, Đo hàm lượng oxy hoà tan, Đo độ mặn, Đo độ kiềm: hàng ngày
Đo sulfat, đo amonia, nitrat, nitrit, vi khuẩn, tảo: hàng tuần

Thay nước (một phần) hoặc xử lý (vi sinh, hoá chất) khi các chỉ tiêu đo không đạt yêu cầu (biến động pH lớn trong ngày, độ trong giảm quá nhiều …)

Sử dụng thêm các sản phẩm sinh học để làm sạch nước và đáy ao trong suốt quá trình nuôi.

5.4. Kiểm tra ao:
Kiểm tra bờ, cống, mương, lưới ngăn cua… hàng ngày
Vệ sinh sàng ăn (vó), vớt tảo (láp láp), bọt…

5.5. Quạt nước và sục khí:

– Thời lượng quạt nước và cấp oxy tăng theo tuổi của tôm.
từ 1-5 tuần đầu: quạt 1 giờ/ngày
từ 5-8 tuần tuổi: quạt từ 2- 4 giờ/ngày
từ 9-12 tuần tuổi: quạt từ 6-8 giờ/ngày
từ 13-15 tuần tuổi: quạt từ 9-10giờ/ngày
từ 15-thu hoạch: quạt 11-12 giờ/ngày

– Sục khí chạy máy sục khí thường xuyên vào ban đêm, theo Việt Linh vào những ngày có mưa hay ít nắng, thời gian chạy sục khí cũng tăng theo tuổi tôm:
Tháng thứ 1: 4-8 giờ/ngày
Tháng thứ 2: 8-12 giờ/ngày
Tháng thứ 3:12-18 giờ/ngày
Tháng thứ 4: 18-24 giờ/ngày

6. Thu hoạch:

Tùy theo thị trường, và môi trường ao nuôi, tình hình sức khoẻ của tôm… mà quyết định thu hoạch. Trọng lượng tôm lí tưởng khi thu hoạch là >= 25g/con.

Thu tôm bằng phương pháp xả cống hoặc kéo cào (xung điện).

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/qui-trinh-cong-nghe-nuoi-tom-su-cong-nghiep-8641.html