Tag Archives: nuoi trong thuy san

Giải pháp kiểm soát động vật hai mảnh vỏ trong ao tôm

Hình: Chu kỳ sống của động vật hai mảnh vỏ điển hình (vẹm).

1. Ảnh hưởng của các loài hai mảnh vỏ trong ao nuôi tôm

Các loài động vật hai mảnh vỏ (hến, vẹm, chem chép, trai, hàu,…) ăn tảo bằng cách lọc chúng thông qua các tiêm mao. Khi quần thể các loài này phát triển quá mức trong ao tôm sẽ:

– Làm giảm mật độ tảo, làm tăng độ trong của nước ao. tag: máy thổi khí

– Cạnh tranh thức ăn, oxy hòa tan với tôm.

– Hấp thụ nhiều vi khoáng đặc biệt là canxi carbonate (CaCO3) để duy trì và phát triển vỏ, làm lượng khoáng chất trong ao nhất là canxi và độ kiềm của nước giảm mạnh làm tôm bị mềm vỏ và có thể gây chết tôm.

– Làm tôm chậm tăng trưởng, tăng tỷ lệ phân đàn.

– Là nguồn mang nhiều mầm bệnh có thể lây truyền sang tôm.

2. Phòng ngừa các loài hai mảnh vỏ gây hại trong ao tôm

– Cải tạo ao nuôi hút bùn, rải vôi và phơi ao, lấy nước qua túi lọc, diệt tạp, diệt khuẩn đúng kỹ thuật

– Cần có ao lắng xử lý nước kỹ trước khi cấp nước vô ao nuôi. tag: may thoi khi

3. Biện pháp xử lý

Cải tạo ao:

Dùng OSCILL ALGA 08 hoặc TRIHO 05 2 lít/ 1.000 m3 nước.

Trong ao nuôi tôm thịt:

Dùng OSCILL ALGA 08 hoặc TRIHO 05 với liều lượng như sau:

+ Tôm trên 10 ngày tuổi: 0,8 lít/1.000 m3 nước.

+ Tôm trên 1 tháng tuổi: 1,5 lít/1.000 m3 nước.

Dùng trong khoảng thời gian từ 18 – 21 giờ.

Nếu tôm yếu thì nên dùng Yucado 100% Natural/ VS Yuca trước 1- 2 giờ đồng hồ hay San Antishock trước 6 giờ đồng hồ, kèm theo chạy quạt. tag: máy thổi khí chất lượng cao

Nếu dùng liều cao, sau 36 giờ đồng hồ nên dùng thêm TOXINPOND+ để tôm khỏe.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/giai-phap-kiem-soat-dong-vat-hai-manh-vo-trong-ao-tom-36659.html

Muối hữu cơ giúp cải thiện hiệu quả tăng trưởng của tôm thẻ

Năm 2014, một nhóm nghiên cứu do Bruno dẫn đầu cho thấy khi bổ sung vào khẩu phần ăn của tôm 2 muối sodium butyrate và sodium propionate (đây là muối của 2 loại acid hữu cơ acid butyric và acid propionic) với các tỉ lệ khác nhau sẽ làm tăng thể trọng tôm, hiệu quả sử dụng thức ăn, khả năng hấp thu Nitơ, tỉ lệ hiệu quả Protein. tag: thuốc thuỷ sản

Tỉ lệ sống và sản lượng thu hoạch cao hơn so với khẩu phần ăn bình thường.

Muối hữu cơ giúp cải thiện hiệu quả tăng trưởng của tôm thẻ

Lượng Vibrio sp. trong đường ruột cũng giảm đáng kể khi kết hợp cho ăn với 2 loại muối hữu cơ này.

Tăng cường khả năng phát triển: Khi bổ sung butyrate và propionate (0,5%, 1% và 2%) vào khẩu phần ăn của tôm thì kết quả cho thấy đều tăng thể trọng tôm.

Nhưng khi bổ sung 2% propionate vào khẩu phần ăn thì hiệu quả sử dụng thức ăn tăng rõ rệt, tỉ lệ sống tăng 4,3% so với khẩu phần ăn bình thường. Sản lượng thu hoạch cũng tăng từ 992 kg/ha lên 1127 kg/ha khi bổ sung 2% butyrate.

Một nghiên cứu khác của Nuez-Ortin (2011) cho thấy tăng 9% thể trọng tôm và 3% tỉ lệ sống khi bổ sung 0,1% sodium butyrate vào thức ăn.

Tăng khả năng hấp thụ Nito và protein: khi bổ sung 0,5% propionate thì tỉ lệ hấp thu Nitơ tăng 5%, còn khi bổ sung 2% butyrate thì tăng 8%.

Tỉ lệ hiệu quả Protein cũng tăng từ 1.05 lên 1.37 khi bổ sung 2% butyrate vào khẩu phần ăn.

Giảm lượng Vibrio sp. trong đường ruột:

Sau thời gian nuôi kết hợp với butyrate và propionate trong khẩu phần ăn, ruột tôm được tách biệt sau đó pha loãng rồi cấy lên môi trường đặc trưng để xác định lượng Vibrio sp. thì kết quả cho thấy lượng Vibrio sp. giảm rõ rệt so với ban đầu (từ 10^8 xuống 10^6 CFU/g sau 27 ngày nuôi).

Từ các kết quả nghiên cứu cho thấy tiềm năng ứng dụng của các muối hữu cơ cũng như các acid hữu cơ vào ngành nuôi trồng thủy sản là rất lớn.

Hiện nay trên thị trường cũng có nhiều loại sản phẩm chứa các gốc acid hữu cơ, bà con có thể cân nhắc để sử dụng có hiệu quả trong vụ nuôi của mình. tag: thuoc thuy san

Source:
1. Bruno C. d. S., Felipe N. V., José L. P. M.,Norha B., Walter Q. S. (2014), Butyrate and propionate improve the growth performance of Litopenaeus vannamei, Aquaculture Research, 1–12.
2. Nuez-Ortin W.G. (2011), Gustor-aqua: an effective solution to optimize health status and nutrient utilization. International Aquafeed, 18–20.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/muoi-huu-co-giup-cai-thien-hieu-qua-tang-truong-cua-tom-the-33081.html

Phòng bệnh đúng cách cho tôm thẻ chân trắng

Các biện pháp chung

– Hạn chế các tác động xấu từ môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe của tôm như biến đổi của các yếu tố thủy lý, thủy hóa, sự gia tăng của mầm bệnh trong ao. tag: thuốc thuỷ sản

– Ngăn ngừa các nguy cơ gây bệnh từ nguồn giống không đảm bảo, chất lượng nước cấp không đạt yêu cầu, quá trình xâm nhập của mầm bệnh từ bên ngoài do vệ sinh ao nuôi, trang trại chưa phù hợp…

Phòng bệnh đúng cách cho tôm thẻ chân trắng

– Xử lý triệt để và có trách nhiệm khi bệnh xảy ra: báo ngay đến cơ quan liên quan vấn đề bệnh để xử lý kịp thời, đúng cách.

– Phòng bệnh trong quá trình nuôi bao gồm: thực hiện tốt việc quản lý con giống, thức ăn, nguồn nước và theo dõi sức khỏe tôm nuôi.

Yếu tố phản ánh sức khỏe tôm

Cần theo dõi sức ăn của tôm, đây được xem là một trong những dấu hiệu thể hiện rõ nhất tình trạng sức khỏe của tôm

. Quan sát hoạt động của tôm trong ao, biểu hiện của tôm vào sàng ăn, các dấu hiệu cảm quan như tình trạng thức ăn trong ruột, các dấu hiệu bên ngoài khác…

Bên cạnh dó, theo dõi dấu hiệu lột xác để kiểm soát chặt chẽ độ kiềm của nước, đảm bảo chất lượng nước để tôm phát triển tốt: tăng trọng tối đa và hình thành vỏ mới sau mỗi lần lột xác, đồng thời tăng khối lượng, chất lượng tôm trước khi thu hoạch.

Vệ sinh trang trại nuôi: Không xả rác, xả nước thải sinh hoạt; Không nuôi gia súc, gia cầm trong khu vực nuôi;

Sử dụng lưới ngăn chim cò, súc vật. Dụng cụ, trang thiết bị sử dụng riêng biệt cho từng ao; Chú ý vệ sinh của công nhân, kỹ thuật lao động khi chăm sóc tôm, nhất là khi ao tôm có bệnh.

Sử dụng và quản lý thuốc, hóa chất hợp lý

Mô hình nuôi TTCT thâm canh phải áp dụng nghiêm ngặt các giải pháp quản lý việc sử dụng thuốc và hoá chất:

Chỉ sử dụng khi thật cần thiết, không lạm dụng; Chỉ sử dụng thuốc, hóa chất được phép; Cần bảo quản thuốc, hóa chất đúng cách; Ghi chép cẩn thận mọi thông tin liên quan đến việc sử dụng thuốc, hóa chất.

Chất thải và xử lý chất thải

Dụng cụ thu hoạch, cách thu hoạch cần chú ý lây nhiễm giữa các ao: sử dụng dụng cụ thu hoạch riêng rẽ cho từng ao hoặc vệ sinh kỹ (giặt sạch, phơi ráo) trước khi sử dụng tiếp cho ao khác.

Nước thải và chất lắng đọng phải được xử lý đạt yêu cầu trước khi thải ra ngoài môi trường xung quanh:

Nếu cần phải thải ngay, phải để lắng và xử lý bằng hóa chất diệt khuẩn hoặc có thể dùng cá (rô phi) thả nuôi trong ao xử lý nước thải, đây là phương pháp xử lý sinh học, sau một khoảng thời gian, kiểm tra các yếu tố môi trường đạt yêu cầu mới được thải ra môi trường ngoài.

Đối với bùn ao: Phải xử lý phù hợp bùn ao nuôi thủy sản sau thu hoạch bằng cách bùn được bơm, hoặc chở đến bãi xử lý chất thải cách xa khu vực nuôi.

Một số biện pháp phòng bệnh

Biện pháp chung:

– Chọn tôm giống sạch bệnh, đã qua kiểm dịch; Phòng tránh sự xâm nhập của virus vào ao bằng cách: làm tốt công tác tẩy dọn, vệ sinh trước và sau một vụ nuôi.

Hạn chế hoặc tiêu diệt các sinh vật trung gian (cua, còng, tôm hoang dã…) bằng các sản phẩm an toàn, sát trùng nước trước khi cấp vào ao nuôi.

– Thả nuôi tôm đúng theo lịch thời vụ nhằm tránh mùa mà bệnh thường xuất hiện. Khi bệnh đã xảy ra, cần dùng thuốc sát trùng với nồng độ cao:

Chlorine >70ppm diệt virus và sinh vật mang virus (tôm) trước khi thải ra môi trường để hạn chế sự lây lan trên diện rộng. Lập tức báo ngay cho cơ quan quản lý thủy sản để được hướng dẫn và xử lý dập dịch.

Dấu hiệu bệnh:

– Tôm thường bị bệnh và chết hàng loạt ở giai đoạn từ 25 đến 45 ngày. Khi chết bên ngoài ít có biểu hiện rõ ràng (tôm chết đẹp) hoặc màu sắc nhợt nhạt, ruột không có thức ăn, giải phẫu bên trong gan tụy bị teo. Loại vi khuẩn Vibrio Parahaemolyticus rất phổ biến trong môi trường nước lợ, mặn và trên tôm.

– Vi khuẩn Vibrio Parahaemolyticus xâm nhập vào ao nuôi theo một số con đường: Nguồn nước, tôm giống, thức ăn, đặc biệt là thức ăn tươi sống và từ đáy ao nếu công tác tẩy dọn chưa tốt.

Áp dụng tổng hợp các biện pháp để hạn chế bệnh như sau:

– Định kỳ dùng chế phẩm vi sinh (Probiotic), giảm độ mặn nước ao nuôi xuống 15 – 20‰, quản lý tốt hệ phiêu sinh trong ao tức quản lý tốt màu nước ao.

– Tránh lấy nước biển vào ao trong các ngày biến động do bão, gió mùa hay áp thấp nhiệt đới vì khi đó mật độ Vibrio rong nước biển ven bờ có thể tăng lên nhiều lần so với bình thường.

– Tăng cường hệ miễn dịch tự nhiên của tôm bằng quản lý môi trường tốt và bổ sung một số sản phẩm như Vitamin C, A, E… vào thức ăn. tag: thuoc thuy san

Nguyên nhân của bệnh Hoại tử gan tụy trên tôm (EMS/AHPNS) được xác định là do loài vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus nên việc kiểm tra mật độ vi khuẩn này trước khi thả tôm là hết sức cần thiết.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/phong-benh-dung-cach-cho-tom-the-chan-trang-33083.html

Sử dụng nước ngầm trong nuôi tôm thẻ chân trắng

Thực trạng này dẫn tới cạn kiệt nguồn nước ngầm và gây một số vấn đề trên tôm nuôi sau một thời gian trúng tôm ở vài vụ nuôi đầu. tag: thuốc thuỷ sản

Tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei là loài rộng muối, có thể sống được ở độ mặn dao động từ 0 – 50‰, thích hợp nhất là từ 10 – 25‰.

Sử dụng nước ngầm trong nuôi tôm thẻ chân trắng

Trên thực tế cho thấy rằng khi tôm thẻ chân trắng được nuôi ở độ mặn thấp (5 – 15‰) sẽ tăng trưởng nhanh hơn hơn độ mặn cao và ít bị hội chứng hoại tử gan tụy.

1.Các khoáng cần thiết cho sự phát triển của tôm

Ca và P là thành phần chính tạo nên lớp vỏ của tôm.

Ca cần thiết cho sự đông máu, các chức năng của cơ, sự truyền dẫn thần kinh, điều hòa áp suất thẩm thấu và là đồng nhân tố tác động trong hệ enzyme.

P là thành phần trong các phosphate hữu cơ như là các nucleotide phospholipid, coenzyme, ADN và ARN.

Na+, Cl- và K+ tham gia vào quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu, hoạt động enzyme Na+/K+ ATPase trong tế bào.

Na+ có chức năng trong dẫn truyền xung động thần kinh cơ.

K+ có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất của tôm.

Tôm thẻ chân trắng có biểu hiện biếng ăn, hoạt động kém, tăng trưởng chậm, thậm chí chết khi thiếu K+.

Mg rất quan trọng trong sự cân bằng bên trong và ngoài tế bào của tôm.

Mg tham gia vào quá trình hô hấp tế bào và những phản ứng truyền dẫn phosphate.

Mg là nhân tố kích hoạt cho tất cả các phản ứng trong quá trình trao đổi chất lipid, carbohydrate và protein.

2.Kim loại nặng, khí độc

Nhiều hộ nuôi sử dụng trực tiếp nước ngầm để pha với nước biển để giảm độ mặn hay sử dụng nước mặn ngầm để pha với nước ngọt tăng độ mặn.

Khi sử dụng nước ngầm để nuôi tôm sẽ có một số vấn đề sau: nước ngầm thường có hàm lượng DO thấp, khí H2S cao và hàm lượng ion Mn, Fe cao.

Trong môi trường có oxy thấp thì Mn và Fe thường ở dạng khử.

Nếu sử dụng nước ngầm trực tiếp, sự kết tủa của các muối kim loại có thể ảnh hưởng đến mang tôm, gây stress hoặc gây chết tôm.

Tuy nhiên, nếu được ngầm được xử lý, sau khi bơm, được sục khí mạnh cho bay hết khí độc, những kim loại Mn và Fe sẽ bị oxy hóa thành dạng phức đối với các chất oxy hóa, hydroxyl và carbonate.

Mn bị oxy hóa thành MnO2 và Fe thành Fe(OH)3 kết tủa, lúc này nước mới được xem là an toàn đối với tôm.

Hóa chất trung hòa hoạt tính ion kim loại nặng có thể cho vào nước để rút ngắn thời gian sử dụng nước ngầm, kết tủa kim loại nặng và làm cho chúng không độc hại là EDTA với liều lượng 5-10 mg/L thường được dùng để xử lý ion kim loại nặng, hoặc sử dụng máy tạo Ozone để khử kim loại nặng trước khi đưa vào sử dụng.

3.Sự cân bằng của ion K, Mg, Ca

Sự thiếu hụt về hàm lượng K và Mg trong nước ngầm có thể xảy ra và phải được điều chỉnh.

Mặt khác, sự khác biệt về thành phần ion trong nước ngầm và nước biển rất khác nhau, do đó cần cẩn thận khi sử dụng nước ngầm.

Trong nước biển tự nhiên, tỉ lệ Ca:Mg thường là 1:3,4 nhưng trong nước ngầm có thể lên đến 10:1.

Sự không cân bằng này có thể ảnh hưởng đến sự điều hòa thẩm thấu và là một trong những nguyên nhân gây ra hội chứng co cơ ở tôm.

Chúng ta nên nhớ rằng, thành phần và tỉ lệ ion trong nước quan trọng hơn độ mặn của nước.

Điều này thường thấy khi sử dụng muối ăn NaCl pha loãng thì không thích hợp cho nuôi tôm tại bất kỳ độ mặn nào.

Nếu độ mặn đủ, các ion Ca2+, Mg2+, K+ là rất quan trọng để cho tôm có thể sống được.

Trong những ion này có thể bị thiếu nhưng thiếu K+ là có thể ảnh hưởng nghiêm trọng hơn.

Tỉ lệ Ca:K trong nước biển là 1:1.

Đối với những ao nuôi có tỉ lệ Ca:K cao, việc bổ sung K vào trong nước để giảm tỉ lệ xuống là rất cần thiết.

Có thể sử dụng phân kali (MOP), KCl hoặc kali magnesium sulfate (K2SO4) để bón cho ao.

Về nguyên tắc, nước được xem thích hợp cho nuôi tôm thẻ là: độ mặn phải trên 0,5‰.

Hàm lượng Na+, Cl-, và K+ phải giống như nước biển pha loãng ở cùng độ mặn, tỉ lệ giữa Ca:K, Mg:Ca, Na:K phải không thay đổi so với nước biển tự nhiên, tỷ lệ N:K này là 28:1. tag: thuoc thuy san

Hàm lượng Ca cao và độ kiềm phải trên 75 mgCaCO3/L.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/su-dung-nuoc-ngam-trong-nuoi-tom-the-chan-trang-33429.html

Nuôi tôm thẻ chân trắng trải bạt nền đáy

1. Chuẩn bị ao

Ao được đầm nén kỹ bờ, trước khi lót bạt cần làm phẳng đáy ao, nền đáy nghiêng về cống thoát nước, đáy ao cần được phơi khô. tag: thuốc thuỷ sản

Có thể dùng vải địa chống thấm (HDPE) hoặc bạt, các tấm được dán kín mép lại với nhau, trải lên toàn bộ nền đáy và bờ ao.

Nuôi tôm thẻ chân trắng trải bạt nền đáy

Khi trải bạt phải vuốt bạt áp sát nền đáy, cần lắp 3 – 4 ống thoát khí nối từ dưới nền đáy lên trên bờ, tránh hiện tượng khí tích tụ phía dưới, đẩy bạt phồng lên khi đưa nước vào ao nuôi.

Nếu đã trải bạt nuôi tôm từ vụ trước thì tháo róc nước, dùng máy bơm cao áp xịt rửa sạch các chất bám bẩn trên mặt bạt, sau đó dùng nước Chlorine 5% té đều lên mặt bạt, phơi bạt sau 5 ngày mới lấy nước vào ao.

2. Cấp nước, thả giống

Cấp nước: Nước được lấy vào ao lắng khử trùng bằng Chlorine liều lượng 30 ppm (30 kg/1.000 m3 nước) sau 10 ngày mới lấy nước vào ao qua túi lọc, độ sâu nước ao 1,4 m trở lên.

Tránh lấy nước vào ao lắng khi:

+ Có thông tin vùng dịch bệnh thải nước ra vùng nuôi

+ Nước thủy triều có hiện tượng phát sáng ban đêm

+ Nước có nhiều váng bọt, nhiều huyền phù lơ lửng+ Không lấy nước khi thủy triều đang lên

+ Kiểm tra độ mặn trước khi lấy nước.

Lắp đặt quạt khíHệ thống quạt nước có công dụng chính là tăng hàm lượng ôxy hòa tan trong nước, tạo dòng chảy kích thích tôm bắt mồi, đồng nhất chất lượng nước tại mọi điểm trong ao, gom chất thải vào giữa ao, thuận tiện cho việc xiphong đáy.

Số lượng quạt khí, tùy theo diện tích nuôi mà bố trí dàn quạt khí nhiều hay ít, thông thường với dàn quạt 15 – 17 cánh thì nên lắp 2 dàn, đảo chiều nhau, đảm bảo khi vận hành tạo dòng nước chảy theo một chiều.

Ao nuôi nên có diện tích 2.000 – 3.000 m2, hình chữ nhật (dài gấp 1,5 lần rộng), nếu ao hình vuông nên lắp 3 dàn.

Với diện tích nuôi 3.000 – 5.000 m2, cần lắp 4 – 6 dàn quạt.

Tôm giống: Chọn những nhà cung cấp có uy tín.

Tôm khi chuyển về phải được kiểm dịch và điều chỉnh độ mặn, pH giữa túi đựng tôm và ao nuôi, thả tôm lúc mát trời, cần cân bằng nhiệt độ trong ao và túi, tránh tôm bị sốc nhiệt, mật độ thả nuôi 120 – 150 con/m2.

3. Chăm sóc, quản lý

Thức ăn: Chọn thức ăn cho tôm được sản xuất bởi các hãng lớn.

Thức ăn phải cho ăn đúng khẩu phần, hàm lượng đạm phải phù hợp từng giai đoạn phát triển của tôm, luôn kiểm soát lượng thức ăn để điều chỉnh tránh thừa hoặc thiếu.

Không nên cho tôm ăn khi trời mưa vì có sự thay đổi nhiệt độ và độ mặn.

Trong suốt giai đoạn tôm lột xác, nên giảm lượng thức ăn và bổ sung thêm khoáng.

Định kỳ bắt tôm để quan sát: Nếu ruột tôm màu đen sẫm đó là biểu hiện thức ăn bị thiếu, tôm phải ăn thức ăn tự nhiên trong ao, do vậy cần tăng thêm lượng thức ăn cho tôm còn ruột tôm có màu nâu là thức ăn đầy đủ.

Dùng sàng ăn để kiểm tra mức độ ăn của tôm để điều chỉnh thức ăn cho kịp thời.

Duy trì độ sâu nước ao để ổn định nhiệt độ:

Sau khi thả tôm 10 ngày nên sử dụng chế phẩm sinh học làm sạch nước ao định kỳ 10 ngày/lần.

Sau 1 tháng nuôi, tiến hành xiphong đáy định kỳ 4 ngày/lần; khi xiphong đáy phải nhẹ nhàng, điều chỉnh van vừa phải, tránh tôm bị hút ra theo ống xiphong.

Kiểm soát các yếu tố môi trường:

Thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường trong ao nuôi (như pH, độ kiềm, ôxy, độ mặn) để có biện pháp khắc phục kịp thời khi có sự cố môi trường, nên duy trì các yếu tố môi trường ở ngưỡng thích hợp cho tôm, pH: 7,5 – 8,5; độ kiềm: 80 – 120 mg/l, ôxy hòa tan: 4 mg/l trở lên, độ mặn 15 – 25‰.

Nếu pH thấp, độ kiềm nhỏ hơn 70: tạt vôi CaCO3 kết hợp Dolomite vào ban đêm.

Độ kiềm cao hơn 230: nên thay bớt nước, lấy nước đã qua xử lý từ ao lắng.

Nếu pH cao 8,8 – 9 kéo dài, nên thay bớt 20% lượng nước trong ao.

Duy trì độ trong 35 – 40 cm.

Màu nước duy trì ở màu xanh nõn chuối hoặc màu mận.

Trong tháng đầu thả tôm chỉ quạt khí về đêm, sang tháng nuôi thứ 2 trở đi cần vận hành quạt khí 24/24, nên sắm máy phát điện dự phòng khi mất điện.

Cùng đó, cần bổ sung chế phẩm sinh học vào ao nuôi định kỳ 10 ngày/lần, nhằm cân bằng hệ vi sinh vật trong ao, phân hủy lượng chất thải, giải phóng khí độc, ổn định môi trường trong ao nuôi.

Trộn chế phẩm sinh học vào thức ăn cho tôm, kích thích tiêu hóa giúp tôm lớn nhanh.

Phòng bệnh tôm:

Trong quá trình nuôi nên áp dụng biện pháp phòng bệnh tổng hợp, quản lý tốt các yếu tố môi trường. tag: thuoc thuy san

Ngăn chặn các loại cua cáy có thể mang mầm bệnh xâm nhập vùng nuôi; vệ sinh, khử trùng dụng cụ, bảo hộ lao động trước khi vào khu vực nuôi.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-tom-the-chan-trang-trai-bat-nen-day-33556.html

Nhu cầu khoáng của tôm thẻ chân trắng

Tuy nhiên các chất kháng dinh dưỡng đặc biệt là phytate có trong nguyên liệu thực vật có khả năng liên kết chặc chẽ với các muối khoáng canxi, magiê, sắt và kẽm làm giảm độ tiêu hóa các khoáng chất gây thiếu khoáng cho tôm nuôi. tag: thuốc thuỷ sản

Khoáng chất đóng vai trò quan trong thành phần dinh dưỡng của các loài động vật thủy sản, nhất là trong mô hình nuôi tôm thâm canh sử dụng thức ăn công nghiệp.

Nhu cầu khoáng của tôm thẻ chân trắng

Việc bổ sung các khoáng chất không những giúp cho tôm nuôi khỏe mạnh mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường khả năng miễn dịch.

PHÂN LOẠI:

Khoáng bao gồm các nguyên tố vô cơ cần thiết cho quá trình sinh trưởng và phát triển của tôm.

Căn cứ theo nhu cầu khoáng được chia làm 2 nhóm đa lượng và vi lượng:

Nhóm khoáng đa lượng bao gồm: Canxi (Ca), Magie (Mg), Photpho (P), Na (Natri), Kali (K), Chloride (Cl),…

Chức năng chung của các khoáng chất bao gồm các thành phần của bộ xương ngoài, cân bằng áp suất thẩm thấu, tham gia vào các thành phần cấu trúc của các mô, truyền xung động thần kinh và co cơ.

Khoáng chất đóng vai trò như thành phần thiết yếu cho các enzyme, vitamin, hormone, sắc tố, yếu tố đồng vận chuyển trong quá trình chuyển hóa, chất xúc tác, và hoạt hoá enzyme.

Tôm có thể hấp thụ hoặc bài tiết khoáng chất trực tiếp từ môi trường nước qua mang và bề mặt cơ thể.

Vì vậy, yêu cầu khoáng chất trong chế độ ăn phần lớn phụ thuộc vào nồng độ khoáng chất trong môi trường nước nuôi tôm.

* Canxi (Ca), photpho (P):

Đối với tôm Ca và P cần thiết cho quá trình hình thành vỏ kitin.

Ca còn tham gia vào quá trình động máu, co cơ, dẫn truyền thông tin thần kinh, duy trì áp suất thẩm thấu.

P còn có vai trò trong quá trình biến dưỡng các chất dinh dưỡng trong cơ thể, tham gia vào cấu trúc phosphate hữu cơ như: nucleotide, phospholipid, coenzyme, DNA, các acid nhân và tham gia trực tiếp vào các phản ứng tạo năng lượng của tế bào.

P vô là thành phần của hệ thống đệm, để duy trì pH dịch tế bào và ngoại tế bào P hầu như chỉ được lấy từ thức ăn đặc biệt trong mô hình nuôi thâm canh P là yếu tố cần được bổ sung vào thức ăn.

Dấu hiệu thiếu P là sinh trưởng chậm, hiệu quả sử dụng thức ăn và hàm lượng khoáng trong vỏ giảm.

Ngoài ra thiếu P cũng ảnh hưởng tới các thành phần khác trong cơ thể như tăng lượng lipid và giảm lượng nước.

Lượng P hấp thụ từ thức ăn thay đổi theo hàm lượng và trạng thái tồn tại của P có trong thức ăn.

Đồng thời sự hấp thụ P còn lệ thuộc vào hàm lượng Ca có trong thức ăn.

Sự gia tăng P trong thức ăn sẽ làm gia tăng mức độ tích luỹ Ca và P trong cơ thể cá.

* Magie (Mg): rất quan trọng trong sự cân bằng bên trong và ngoài tế bào của tôm.

Mg tham gia vào quá trình hô hấp tế bào và những phản ứng truyền dẫn phosphate.

Mg có vai trò quan trọng trongmột số hệ thống enzyme kích hoạt cho tất cả các phản ứng trong quá trình trao đổi chất lipid, carbohydrate và protein cung cấp năng lượng cho tôm. Nếu thiếu Mg tôm thẻ dễ bị đục cơ và cong thân, mềm vỏ, tình trạng này kéo dài ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và làm chết tôm.

Trong tự nhiên tôm có thể hấp thu lượng lớn khoáng từ nước biển như Ca, Na, Cl, và Mg.

Tuy nhiên ở điều kiện nuôi công nghiệp mật độ cao, độ mặn tương đối thấp hầu như không lấy được Ca, Mg từ môi trường nên thức ăn của những loại các này cần lưu ý vì hàm lượng Ca, P, Mg trong thức ăn thấp sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng làm cho tôm chậm lớn, tôm lột khó cứng vỏ, gây ra hiện tượng đục cơ và cong thân thường thấy trong quá trình nuôi tôm thẻ.

* Các khoáng đa lượng khác: Na+, Cl– và K+ tham gia vào quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu, hoạt động enzyme Na+/K+ ATPase trong tế bào, cần bằng acid – bazơ, duy trì cấu trúc màng tế bào.

Na+ có chức năng trong dẫn truyền xung động thần kinh cơ dẫn truyền thần kinh.

K+ có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất của tôm.

Tôm thẻ chân trắng có biểu hiện biếng ăn, hoạt động kém, tăng trưởng chậm, thậm chí chết khi thiếu K+.

Nhóm khoáng vi lượng bao gồm: nhôm (Al), Coban (Co), Chrom (Cr), đồng (Cu), Flo (F), Iod (I), Sắt (Fe), Mangan (Mn), Selenium (Se), Silic (Si), Niken (Ni), Kẽm (Zn),…

* Đồng (Cu )

Là thành phần nhiều enzyme có tính oxy hoá và có vai trò quan trọng trong sự hô hấp, cần thiết cho sự lột xác và tăng trưởng của tôm, là thành phần của sắc tố đen (Melanin), và hemocyanin trong máu tôm.

Thiếu Cu làm tôm sinh trưởng chậm, làm giảm hàm lượng Cu trong máu, gan tụy, tôm dễ nhiễm bệnh.

* Kem (Zn)

Kẽm là thành phần dinh dưỡng thiết yếu cần cho quá trình trao đổi chất bao gồm tăng trưởng, phát triển và miễn dịch không đặc hiệu của tôm, là thành phần cấu tạo enzyme Carbonicanhydrase (xúc tác phản ứng hydrat hoá) làm tăng khả năng vận chuyển CO2 và kích thích tiết HCl trong dạ dày.

Khi thiếu Zn tôm giảm bắt mồi, giảm tăng tưởng, mòn phụ bộ, còi, và giảm sức sinh sản, giảm sức sống.

* Mangan (Mn):

Mn là một thành phần cần thiết của một số enzyme như pyruvate carboxylase, lipase hay là thành phần cấu thành enzyme trong chuyển hóa protein, lipid và carbohydrate.

Sự hấp thu Mn từ môi trường nước rất thấp.

Sự thiếu hụt Mn làm giảm bắt mồi, giảm tăng trưởng, còi cọc, thân ngắn, đuôi bất thường, dễ bị dị hình, tăng tỷ lệ chết.

* Selenium (Se):

Se là khoáng chất cần thiết cho tôm.

Trong cơ thể Se và vitamin E tham gia vào quá trình trao đổi lipid.

Se có chức năng chống lại quá trình tự ôxy hóa của lipid màng tế bào, là thành phần chính trong cấu thành enzyme glutathione peroxidase (GSH).

Sự hấp thu Se từ môi trường nước rất thấp nên cần được cung cấp từ thức ăn, đặc biệt là thức ăn có hàm lượng lipid cao nhằm hạn chế quá trình ôxy hóa lipid trong thức ăn.

Sự thiếu hụt Se làm giảm glutathione, tăng stress, giảm tăng trưởng, tăng tỷ lệ chết.

* Coban (Co): Vì tôm không thể tự sản xuất vitamin B12 nên trong khẩu phần ăn cần bổ sung Co làm chất dinh dưỡng cần thiết cho các vi sinh vật hỗ trợ tổng hợp vitamin B12 cho tôm nuôi.

* Sắt (Fe):

Sắt là thành phần dinh dưỡng thiết yếu cần cho chứ năng của tất cả các cơ quan và mô trong cơ thể.

Nhìn chung nhóm khoáng vi lượng cần với lượng rất ít tuy nhiên lại có vai trò quan trọng trong cấu tạo các nhóm chức của enzyme, hormone, điều hoà quá trình sinh tổng hợp protein,… ảnh hưởng một cách rõ rệt đến các quá trình trao đổi chất, đặc biệt trong môi trường nuôi thâm canh, sự thay đổi môi trường, chất lượng nước cùng với các thực hành nuôi dẫn đến stress và có ảnh hưởng đến các quá trình sinh lý của cơ thể, làm thay đổi nhu cầu về khoáng vi lượng rất hữu ích cho việc giảm stress và tăng khả năng đề kháng bệnh của tôm nuôi.

Tuy nhiên khi hàm lượng khoáng vi lượng có khả năng gây độc hại như đồng, chì, cadmium, thủy ngân, asen, flo, selen, và vanadi cao cũng gây nguy hại cho sứ khỏe tôm nuôi như: giảm tăng trưởng, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn, dị hình, tăng tỷ lệ chết,….

Bảng: Nhu cầu khoáng trong khẩu phần thức ăn của tôm (Cục Thủy Sản)

Nhóm khoáng đa lượng Nhu cầu của tôm (g/100g thức ăn)
Như <3.0
P 2,0
Ca / P
K 1,1
Na / Cl
Trong
Mg <0.3
Nhóm khoáng vi lượng Nhu cầu của tôm (mg/kg thức ăn)
Với 32
Đức tin <100
Zn 120
Mn 60
0,3
Tôi 6
Những gì 1
Cr 1

NHU CẦU KHOÁNG CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG

Nhu cầu khoáng của tôm thay đổi tùy theo dạng khoáng và độ hữu dụng sinh học của khoáng.

Khoáng hòa tan thường được hấp thụ cao nhất ở dạng các ion hòa tan, những hợp chất khác trao đổi điện tử với khoáng hình thành nên các hợp chất bền, ít tan sẽ khó được hấp thụ.

Tôm thẻ là loài có tốc độ tăng trưởng nhanh do tôm lột xác liên tục lại được nuôi theo mô hình thâm canh mật độ cao cho nên nhu cầu khoáng chất cũng rất cao.

Nếu trong ao có độ mặn thấp, hàm lượng Ca, Mg, P, Na… trong nước thấp, tôm hấp thụ khoáng không đủ đặc biệt trong quá trình sinh trưởng, tôm thẻ cần rất nhiều khoáng, do đó trong ao nuôi tôm thẻ nên luôn duy trì độ kiềm từ 100 mg/l trở lên bằng cách sử dụng vôi CaCO3. tag: thuoc thuy san

Bên cạnh đó, phải thường xuyên tạt khoáng cho ao nuôi để tôm cứng vỏ dễ lột xác, giúp tôm tăng trưởng nhanh, hạn chế hiện tượng đục cơ và cong thân, mềm vỏ.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nhu-cau-khoang-cua-tom-the-chan-trang-33557.html

Quan sát màu nước đánh giá chất lượng dinh dưỡng

Có thể nói chưa bao giờ nuôi trồng thủy sản lại chứng tỏ được giá trị và tiềm năng to lớn về kinh tế trong nền nông nghiệp Việt Nam như hiện nay. tag: thuốc thuỷ sản

Với bất cứ quy mô nào, từ nuôi thâm canh với hình thức trang trại hay xen canh, quảng canh với hình thức hộ gia đình thì nuôi thủy sản vẫn mang lại lợi nhuận gấp nhiều lần so với trồng lúa trên cùng một diện tích.

Quan sát màu nước đánh giá chất lượng dinh dưỡng

Điều này hoàn toàn đúng với câu nói “muốn giàu nuôi cá” được ông cha ta truyền miệng từ bao đời nay.

Tuy nhiên, lợi nhuận lớn cũng đồng nghĩa với rủi ro cao, đặc biệt là trong hoàn cảnh nghề nuôi thủy sản của nước ta chưa thật sự đạt tới trình độ tiên tiến và hiện đại.

Các hộ nuôi nhỏ lẻ vẫn chủ yếu dựa trên kinh nghiệm của bản thân là chính.

Việc đầu tư để mua sắm các trang thiết bị như các bộ kit kiểm tra môi trường hay kính hiển vi được một số người nuôi xem như là một khoản chi phí không cần thiết.

Chất lượng nước sẽ được đánh giá chủ yếu bằng cách quan sát màu nước trong ao nuôi, đây là một biện pháp đơn giản, dễ thực hiện.

Tuy nhiên, nếu không có kiến thức đầy đủ về màu nước trong ao nuôi thủy sản, người nuôi cũng sẽ dễ bị nhầm lẫn và đánh giá không đúng về hiện trạng chất lượng nước.

Trên thực tế, nước trong ao nuôi thường có màu do sự xuất hiện của các hợp chất hữu cơ hòa tan hay không hòa tan, hay do sự phát triển của tảo.

Có thể chia màu nước là 2 dạng, màu thực và màu giả.

Màu thực của nước là màu do các hợp chất hòa tan trong nước gây ra, màu giả là màu của các hợp chất không hòa tan.

Trong nuôi thủy sản ta chú ý đến màu giả của nước nhiều hơn, vì qua đó có thể đánh giá sơ bộ môi trường nước đó giàu hay nghèo dinh dưỡng.

Trong ao nuôi thường có các màu sau:

Nước màu xanh nhạt (đọt chuối non)

Màu xanh nhạt do sự phát triển của tảo lục (chlorophyta), loài tảo này thường phát triển mạnh trong môi trường nước ngọt hoặc nước lợ nhạt (dưới 10 phần nghìn).

Đây cũng là màu nước thích hợp nhất để nuôi thủy sản, tảo lục ngoài việc đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn, còn có tác dụng ổn định các yếu tố thủy lý hóa trong ao, hấp thu các chất hữu cơ thông qua đó làm giảm lượng khí độc trong ao.

Người nuôi nên cố gắng duy trì màu nước xanh nhạt, như vậy các loài thủy sản sẽ phát triển tốt hơn.

Nước màu xanh đậm (xanh rêu)

Nước có màu xanh đậm là do sự phát triển của tảo lam (Cyanophyta), loài tảo này phát triển mạnh cả trong môi trường nước ngọt, lợ, mặn.

Nếu nước trong ao nuôi có màu này thì cần có biện pháp làm giảm lượng tảo, vì đây là loại tảo không tốt cho các loài thủy sản.

Hơn nữa, nếu tảo lam phát triển quá mức có thể tiết ra chất độc làm chết cá.

Bên cạnh đó, còn có thể gây thiếu oxy về đêm do tảo hô hấp quá mức.

Màu vàng nâu (màu nước trà)

Nước có màu vàng nâu do sự phát triển của tảo silic (Bacillariophyta), loài tảo này thường phát triển mạnh ở môi trường nước lợ, mặn vào đầu vụ nuôi.

Đây là màu nước thích hợp nhất để nuôi các loài thủy sản nước lợ, mặn.

Màu vàng cam (màu gỉ sắt)

Màu này thường xuất hiện ở các ao nuôi mới đào trên vùng đất phèn.

Màu cam là do đất phèn tiềm tàng (FeS2) bị oxy hóa tạo thành các váng sắt.

Đối với ao có màu nước vàng cam cần có biện pháp khử phèn trước khi thả nuôi, có thể sử dụng vôi nông nghiệp hay bơm, xả nước nhiều lần để rửa trôi lượng phèn trong ao.

Đối với các ao đang nuôi thì cần rải thêm vôi trên bờ ao để tránh hiện tượng pH giảm đột ngột khi trời mưa.

Màu đỏ gạch (màu đất đỏ)

Nước có nhiều phù sa do đất cát bị xói mòn từ vùng thượng nguồn được dòng nước mang đến vùng hạ lưu.

Trong ao nuôi thủy sản ít khi có màu nước như vậy, tuy nhiên vùng ĐBSCL hay gặp nước đỏ gạch trên các con kênh, sông khi chuẩn bị sắp có lũ về.

Người nuôi cần lưu ý không nên cấp nước vào ao lúc này, vì lượng phù sa nhiều sẽ làm tôm, cá khó hô hấp và giảm khả năng bắt mồi.

Tốt nhất là nên cấp nước vào ao lắng trước khi cung cấp cho các ao đang nuôi.

Màu nâu đen

Nước có màu nâu đen do trong nước có chứa nhiều vật chất hữu cơ.

Màu nước này thường thấy ở các ao nuôi có hệ thống cấp, thoát nước không tốt, trong quá trình nuôi không quản lý tốt môi trường, cho ăn dư thừa nhiều sẽ dể làm nước ao nuôi có màu nâu đen.

Trường hợp này hàm lượng oxy hòa tan rất thấp, vì vậy cần có biện pháp xử lý ngay.

Có thể thay nước nhiều lần đến khi hết màu nâu đen, hoặc kết hợp sử dụng thêm các loại chế phẩm sinh học, hóa chất có thể hấp thu khí độc.

Bên cạnh đó, nếu thấy tôm, cá có hiện tượng thiếu oxy cần sử dụng quạt đảo nước hoặc các loại hóa chất cung cấp oxy tức thời, nhằm làm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại.

Quan sát màu nước trong ao nuôi là phương pháp dễ thực hiện và mang lại hiệu quả cao.

Nếu người nuôi có đầy đủ kiến thức về các loại màu nước sẽ có thể đánh giá chính xác được hiện trạng chất lượng nước.

Thông qua đó sẽ có những biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho tôm, cá sinh trưởng và phát triển. tag: thuoc thuy san

Có như vậy, chi phí đầu vào sẽ giảm thấp, lợi nhuận từ việc nuôi thủy sản cũng sẽ tăng lên đáng kể.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quan-sat-mau-nuoc-danh-gia-chat-luong-dinh-duong-34138.html

Xử lý ô nhiễm môi trường – Khoa học kỹ thuật là tiên quyết

Thưa ông, vấn đề ô nhiễm trong thủy sản đã được nêu rất nhiều nhưng hướng giải quyết ra sao? Trách nhiệm liên quan những cơ quan nào, là điều người dân thường thắc mắc?

Xử lý ô nhiễm môi trường - Khoa học kỹ thuật là tiên quyết

Ở ta ai sẽ là đầu mối ứng dụng công nghệ xử lý ô nhiễm trong nông nghiệp? Tất nhiên trước tiên là Bộ NN&PTNT, kinh phí xử lý ô nhiễm phân bổ về Bộ năm nào cũng được ưu tiên, nhưng nếu để xử lý triệt để ô nhiễm thì kinh phí hằng năm không đủ. tag: thuốc thuỷ sản

Nhiều ý kiến đổ lỗi cho nông dân, nhưng theo tôi, dù nông dân nuôi trồng có lúc chưa đúng quy trình quy chuẩn và cũng có trách nhiệm, nhưng quan trọng hơn là Nhà nước không thể để nông dân sống trong ô nhiễm.

Cần phải có những dự án cải tạo môi trường trong ngành thủy sản.

Ngoài ra, VUSTA có hơn 80 hội thành viên và liên quan nhiều đến nông nghiệp và thủy sản cũng là nơi có thể giúp nông dân giải quyết vấn đề ô nhiễm.

Ông đánh giá thế nào về công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường hiện nay?

Hiện, công nghệ cao tốn kém không thiếu, nhưng chúng ta nên kết hợp với các phương pháp xử lý ô nhiễm truyền thống ít tốn kém.

Riêng ở ĐBSCL còn có vấn đề biến đổi khí hậu, lưu lượng nước thất thường.

Tôi từng là đại biểu Quốc hội hai khóa và nhiều lần đi khảo sát đánh giá tại vùng này, thấy không chỉ nuôi trồng mà chế biến cũng gây ô nhiễm.

Công nghệ rất quan trọng, nhưng bên cạnh đó hệ thống pháp luật và ý thức người dân cũng quan trọng không kém.

Ở Nhật Bản cũng có ngành thủy sản, người Nhật có quy định rất chặt chẽ về quy trình sản xuất, tiêu thụ, người dân có ý thức rất cao và họ không làm trái quy định; vì thế, thực phẩm của họ tiêu thụ khối lượng rất lớn mỗi ngày mà vẫn đảm bảo tiêu chí ngon, an toàn.

iệc xuất khẩu vào các thị trường khó tính như Nhật hay EU đòi hỏi người nông dân và các nhà máy ở Việt Nam phải nỗ lực rất nhiều mới đạt được các tiêu chuẩn đề ra.

Phải chăng hàng thủy sản Việt Nam bị làm khó?

Tôi từng học tiến sĩ ở Nhật và thấy tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của họ rất cao; ví dụ: họ không ăn cá sông và cá cửa sông, chủ yếu ăn cá suối.

Công nghệ của Nhật thì rất mới.

Gần đây họ còn công bố những máy móc đo độ ô nhiễm trong lòng các hồ nuôi trồng thủy sản để thông báo sớm cho người nuôi xử lý.

Khi là đại biểu Quốc hội, tôi cũng từng gặp một số nghị sĩ Quốc hội Nhật Bản quan tâm vấn đề ô nhiễm trong ngành thủy sản.

Họ cũng nói rằng không thể hạ các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn xuống, vì điều đó ảnh hưởng đến sức khỏe người dân Nhật, họ chỉ có thể giúp Việt Nam các giải pháp khoa học kỹ thuật để dần nâng trình độ sản xuất, đáp ứng được yêu cầu của các thị trường tiên tiến.

Họ không thể đi theo hướng hạ tiêu chuẩn; cử tri Nhật không bao giờ đồng tình.

Để giữ vững và phát triển sản phẩm thủy sản ở các thị trường khó tính như Nhật Bản, chúng ta phải xử lý vấn đề an toàn thực phẩm ra sao, thưa ông?

Người Nhật bảo hộ nông nghiệp rất nhiều, dân số lao động nông nghiệp bình quân 65 tuổi, thanh niên không thích làm nông nghiệp.

Nhờ máy móc và kỹ thuật ổn định nên người lớn tuổi vẫn làm nông nghiệp được.

Họ muốn hợp tác lâu dài với Việt Nam, nâng tầm nông nghiệp Việt Nam lên.

Họ cũng cho rằng an ninh lương thực là quan trọng.

Kinh tế thị trường, không mấy ai thích làm nông nghiệp.

Mặt khác, người dân Nhật muốn ăn ngon, sạch, an toàn thực phẩm giá cạnh tranh, người dân Nhật cũng thích dùng hàng nội địa hơn.

Chỉ có những sản phẩm nhập khẩu uy tín chất lượng họ mới dùng; do vậy, họ muốn nâng tầm vệ sinh an toàn thực phẩm của Việt Nam chứ không phải cố tình làm khó ngành nông nghiệp Việt Nam.

Có thể xử lý được ô nhiễm trong thủy sản, vấn đề là với giá nào? Nếu quá đắt có làm không và như vậy có nên nuôi trồng nhiều hay không? Đó là bài toán kinh tế.

Theo ông, vai trò của Nhà nước trong việc xử lý ô nhiễm ngành thủy sản ra sao?

Với trình độ nuôi trồng thủy sản hiện nay và mức lợi nhuận khiêm tốn của người dân, nếu phải gánh thêm chi phí xử lý ô nhiễm môi trường thì họ không chịu nổi.

Với các doanh nghiệp, nếu đưa kinh phí xử lý ô nhiễm vào giá thành thì giá sản phẩm tăng cao.

Do đó, vai trò Nhà nước rất quan trọng; cùng đó, các hiệp hội cũng vậy, họ có thể kiểm tra chéo lẫn nhau.

Chẳng hạn, khi phát hiện ra các thành viên của mình “chơi xấu” sử dụng kháng sinh hay chất tăng trọng thì sẽ cảnh cáo và xử phạt trước khi Chính phủ phạt.

Hiệp hội ở ta, có hiệp hội hoạt động tích cực, nhưng có hiệp hội cũng không phải chịu trách nhiệm gì khi các thành viên của mình gây ra ô nhiễm và làm ảnh hưởng đến uy tín ngành mình.

Cuối cùng, hậu quả là ô nhiễm không được giải quyết từ nội bộ hiệp hội, ngành.

Nhiều ý kiến cho rằng, nếu các nhà khoa học tích cực hơn trong lĩnh vực này thì ô nhiễm trong nông nghiệp mới sớm được giải quyết?

Các nhà khoa học không ai quá đề cao tiền bạc.

Họ cần sự tôn vinh của xã hội.

Những người có động cơ kiếm nhà lầu xe hơi thì không đi theo con đường khoa học.

Vấn đề là các ứng xử và thù lao các nhà khoa học cũng phải xứng đáng công sức họ bỏ ra.

Nhiều người nói khó khăn thì từng bước giải quyết, nhưng từng bước lâu quá thì những kết quả nghiên cứu biết bao giờ đến với nông dân và nền kinh tế không tận dụng được sự phát triển khoa học kỹ thuật. tag: thuoc thuy san

Trân trọng cảm ơn ông!

TS Nghiêm Vũ Khải: Các nhà khoa học đã đóng góp rất nhiều vào giải quyết ô nhiễm và an toàn vệ sinh thực phẩm, nhưng nếu có sự đãi ngộ và tôn vinh nhiều hơn thì chắc chắn kết quả thu được sẽ tích cực hơn nữa.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/xu-ly-o-nhiem-moi-truong-khoa-hoc-ky-thuat-la-tien-quyet-38851.html

Nâng cao năng suất bằng thức ăn chức năng nguồn gốc tự nhiên

Nhờ sử dụng các chất phụ gia thức ăn chức năng nguồn gốc tự nhiên, có khả năng kết nối đa tác động, các hộ nuôi tôm tại Ecuador đã cải thiện hiệu quả, năng suất thu hoạch, tỷ lệ sống trên tôm ngay ở những ao nuôi có môi trường nhạy cảm dịch bệnh. tag: thuốc thuỷ sản

Hiểm họa dịch bệnh

Dịch đốm trắng (WSS), một trong những nguyên nhân chính làm ngành tôm bị đình trệ vào những năm 1990, lại đang tiếp tục hoành hành ở Mexico, Trung và Nam Mỹ.

Nâng cao năng suất bằng thức ăn chức năng nguồn gốc tự nhiên

Đây cũng là những nước vẫn duy trì phương pháp nuôi tôm thâm canh trong ao lớn, và thường không tuân thủ các biện pháp an ninh sinh học nghiêm ngặt để chống lại sự xâm nhập của virus gây bệnh.

Sản lượng tôm tại Đông Nam Á và Mexico đã giảm mạnh kể từ cuối 2012 bởi dịch EMS.

Xuất phát từ thực tế người nuôi tôm nhiều nơi trên thế giới đang đối mặt nguy cơ làm ăn thua lỗ do dịch bệnh, các nhà khoa học tại Ecuador đã tiến hành nhiều nghiên cứu và phát hiện việc bổ sung thức ăn chức năng có chất điều biến sức khỏe đường ruột sẽ cải thiện hiệu quả tỷ lệ sống, tăng năng suất thu hoạch và chuyển hóa thức ăn.

Tôm là vật nuôi dễ bị xây xước tại đáy ao, bởi vậy nó vô tình làm tăng nguy cơ lây nhiễm, nguy cơ biến đổi các hệ vi khuẩn giữa môi trường, hệ tiêu hóa và khiến vi khuẩn bất lợi cho hệ đường ruột sinh sôi nảy nở, ảnh hưởng lớn tới chức năng tiêu hóa.

Hệ tiêu hóa của tôm lại được coi là cửa ngõ xâm nhập của các loài vi khuẩn và virus gây bệnh – mối nguy lớn nhất đe dọa sản lượng tôm.

Trong khi đó, sử dụng các loại thuốc kháng sinh kiểm soát sự phát triển của vi khuẩn suốt quá trình sản xuất không còn là giải pháp hữu hiệu hàng đầu, bởi nguy cơ kháng thuốc và tồn dư kháng sinh ảnh hưởng sức khỏe người tiêu dùng.

Vai trò thức ăn chức năng

Những phương thức kiểm soát hệ sinh thái vi khuẩn trong hệ thống nuôi tôm cần phải được thay thế thường xuyên.

Cách thức tiếp cận bền vững nhằm điều chỉnh hệ vi khuẩn đường ruột trên tôm gồm việc sử dụng các hợp chất tự nhiên có khả năng điều chỉnh hệ vi khuẩn theo hướng kết hợp có lợi, ví dụ như probiotics, axit hữu cơ, chiết xuất nấm men và phytobiotics.

Cách thức sử dụng như trên có thể tạo ra những hiệu ứng hợp đồng.

Tại Ecuador, thức ăn chức năng chứa những hoạt chất cải thiện đường ruột cho phép cung cấp vào mỗi cữ ăn của tôm một lượng kháng sinh tự nhiên vừa đủ.

Những loại thức ăn này được coi là giải pháp quan trọng hàng đầu giúp chống lại dịch bệnh.

Tuy nhiên, sự thành công của phương pháp này phụ thuộc vào việc lựa chọn hoạt chất cải thiện đường ruột hiệu quả.

Theo các hộ nuôi tôm tại đây, những phụ gia thức ăn cải thiện đường ruột lý tưởng phải ổn định nhiệt và dễ kết hợp được với thức ăn thông thường.

Ngoài ra, những phụ gia thức ăn có nguồn gốc tự nhiên kết hợp các cơ chế hoạt động khác nhau, như là chất diệt khuẩn/kìm hãm vi khuẩn, cũng như hợp chất ngăn chặn Quorum Sensing được coi là kháng sinh nồng độ thấp hiệu quả nhất, giúp giảm tác động của vi khuẩn gây bệnh điển hình như vibrio.

Thách thức

Từ đầu năm, các nhà khoa học Ecuador đã tiến hành thử nghiệm thí điểm để đánh giá hiệu quả cải thiện năng suất tôm của thức ăn chức năng tại các trại nuôi ở tỉnh Guayas, Ecuador.

Theo đó, hàm lượng thức ăn chức năng tối đa là 3 g/kg thức ăn thương mại suốt giai đoạn thử nghiệm; ao nuôi xấp xỉ 170 m2, thả tôm cỡ trung bình 70 mg, mật độ 10 con/m2, thời gian 78 ngày.

Thức ăn được sử dụng hằng ngày vào buổi sáng và tuân theo bảng cố định giống nhau trên tất cả các ao.

Quản lý ao theo cách thức quản lý sản xuất hàng ngày của trại nuôi.

Thử nghiệm này đã cho thấy sự bổ sung các hoạt chất cải thiện đường ruột giúp tăng tỷ lệ tôm sống trên 20,5%; năng suất tăng 14,1% và tăng chuyển hóa thức ăn hơn 14,9% nhưng tăng trưởng chậm hơn 4,7%.

Trong một nghiên cứu đăng trên tờ Aqua Culture Asia Pacific tháng 5 – 6, nhóm nghiên cứu của tiến sĩ Trần Lộc cũng thừa nhận tính hiệu quả của các sản phẩm phytobiotic tự nhiên trong việc ngăn chặn dịch bệnh EMS và tăng tỷ lệ sống sót trên tôm tới 62 – 107% và giảm lượng vi khuẩn Vibrio trong hệ tiêu hóa của tôm.

Trong quá trình sản xuất thử nghiệm, ngoài tăng trưởng chậm thì thách thức chính với các trại nuôi vẫn là dịch bệnh WSSV và Vibrio dù những phụ gia thức ăn nguồn gốc tự nhiên đa tác động có thể chống lại Vibrio và cải thiện hiệu quả tỷ lệ sống.

Năm 2011, tại triển lãm và hội nghị chuyên đề về tôm nuôi quốc tế, tiến sĩ Jorge Cuellar đã nói rằng, sử dụng thường xuyên thức ăn chức năng có nguồn gốc thực vật sẽ tăng tỷ lệ sống lên 24% và 18% trong hai chu kỳ sản xuất độc lập tại một trại nuôi tôm bán thâm canh ở Panama. tag: thuoc thuy san

Tuy nhiên, những tác động thiếu tích cực tới tính trạng tăng trưởng cần phải được nghiên cứu sâu hơn.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nang-cao-nang-suat-bang-thuc-an-chuc-nang-nguon-goc-tu-nhien-38835.html

Cần khắc phục những hạn chế của mô hình nuôi tôm nước tĩnh

Mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến “nước tĩnh” được cho là hướng đi mới, phù hợp điều kiện Cà Mau, nhất là đối với những hộ ít đất, thiếu vốn, trình độ kỹ thuật còn kém. Mô hình này có tác động tích cực trong bảo vệ môi trường và mang lại hiệu quả kinh tế khá. tag: thuốc thuỷ sản

Mô hình nuôi này hiện được nông dân trong tỉnh áp dụng trên hơn 1.000ha, phần lớn đều cho kết quả rất khả quan và đang có xu thế mở rộng.

Cần khắc phục những hạn chế của mô hình nuôi tôm nước tĩnh

Ưu điểm nổi bật là nông dân trong vùng nuôi được tổ chức lại sản xuất khá tốt:

Thực hiện sên vét, lấy nước tương đối đồng loạt; có áp dụng tiến bộ kỹ thuật ở mức độ đơn giản qua việc biết phơi đáy ao đầm; có dùng phân bón, men vi sinh, xử lý nước trước khi thả tôm, …

Tuy nhiên, để mô hình hiệu quả cao và bền vững hơn, nên nuôi có ao vèo, ao lắng, khu lắng xử lý nước riêng và có thể theo lộ trình:

Chuẩn bị mua một lần đủ lượng tôm giống sạch bệnh, đảm bảo chất lượng theo mật độ 2 – 3 con/m2 cho cả ruộng nuôi, thả trước vào ao vèo để có điều kiện chăm sóc tốt nhằm đạt đầu con.

Sau khi chuẩn bị xong ruộng nuôi đảm bảo các yếu tố môi trường nước thì cho ra ruộng và vẫn dùng ao – khu lắng để châm bù nước bốc hơi.

Khi tôm đã lớn thì mở cả ao lắng cho tôm qua thành ao nuôi luôn cho đến khi thu hoạch.

Như thế mặt ruộng vẫn đảm bảo 100% diện tích nuôi, trừ bờ bao, mà vẫn đảm bảo có vèo, có ao – khu lắng đúng quy trình kỹ thuật.

Có điều tùy giai đoạn tôm nhỏ – lớn mà ta thay đổi mật độ nuôi giãn ra phù hợp, đây cũng là cách thay đổi môi trường sống, kích thích tôm lớn nhanh hơn.

Về độ sâu mực nước ruộng nuôi, phải đảm bảo đạt hơn 0,5m, điều này nhìn chung vùng đất trũng là không khó, nhưng ở vùng ruộng gò, nhiều cua còng soi mội, hay nơi đất hàm lượng sét thấp không giữ được nước là khó đạt, nhất là trong mùa khô ở vụ nuôi chính, tháng 2 – 5.

Cho nên giải pháp để đảm bảo độ sâu, là những nơi đó nhất thiết phải đào hạ thấp mặt đất ruộng gò theo mô hình 2-5-3.

Tức là đào đắp làm sao để đảm bảo chia ruộng thành: 2 phần bờ (lấy đất đắp từ việc đào, sên vét ao nuôi), 3 phần ao nuôi (có thể nuôi thâm canh hay nuôi mật độ cao) và 5 phần ruộng để vừa có thể cấy lúa vào mùa mưa, vừa làm ao – khu lắng nước và thành khu nuôi mở rộng trong vụ nuôi chính.

Về mật độ nuôi, trong mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến “nước tĩnh” này, nông dân chấp nhận thả tôm giống thưa 2 – 3 con/m2 là bước tiến đáng ghi nhận.

Nhưng chuyện thả nối tiếp thêm các đợt tôm giống hay thả gối đầu trong vụ nuôi thì không khác cách nhiều nông dân vẫn đang làm, phải thận trọng và không nên khuyến cáo, chỉ nên chọn đủ giống tốt, thả một lần theo lộ trình “bung rộng sau vèo, ra lắng” như nêu trên, để chủ động tránh lây nhiễm bệnh từ nguồn giống thả sau…

Và chuyện phơi đáy, cắt vụ luân canh hàng năm là một tiến bộ đáng ghi nhận rất nên khuyến cáo, nhưng nếu được kết hợp luân canh với cấy lúa hay cây – con hệ ngọt vào mùa mưa, hoặc xen canh thêm cua, cá phù hợp trong vụ tôm nuôi chính sẽ càng hiệu quả cao hơn. tag: thuoc thuy san

Tóm lại, mô hình nuôi tôm quảng cảnh cải tiến “nước tĩnh” cần được nghiên cứu bằng một đề tài khoa học nghiêm túc, để có số liệu thuyết phục, đảm bảo tính khoa học lẫn thực tiễn, để có cơ sở hiệu chỉnh thành “quy trình nuôi chuẩn”, khả thi và có tính an toàn cao trước khi triển khai nhân rộng đại trà, đảm bảo không có những sơ suất đáng tiếc!

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/can-khac-phuc-nhung-han-che-cua-mo-hinh-nuoi-tom-nuoc-tinh-38836.html