Tag Archives: tom su

Nuôi Tôm Sú Bằng Nguồn Nước Giếng Khoan Tại Long An

Trong những năm qua, người dân vùng Hạ tỉnh Long An điêu đứng vì con tôm sú do giá cả thị trường thấp, dịch bệnh, nguồn giống không có chất lượng, thả nuôi không đúng thời vụ và môi trường nước bị ô nhiễm.

Nuôi Tôm Sú Bằng Nguồn Nước Giếng Khoan Tại Long An

Năm 2009, tình hình cũng không khởi sắc dịch bệnh vẫn tiếp tục bùng phát và nhiều hộ nuôi tôm trên địa bàn tỉnh như muốn quay lưng lại với nghề nuôi tôm sú này.

Hiện nay, diện tích nuôi có xu hướng thu hẹp lại vì công nghiệp hóa, quan trọng nhất là môi trường đã ô nhiễm nghiêm trọng bởi chất thải nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt… gây ảnh hưởng không nhỏ cho người nuôi tôm sú nói riêng và nuôi thủy sản nói chung trên địa bàn tỉnh. Trong 3 năm trở lại đây, một xu hướng mới, có thể nói là có triển vọng cho người nuôi tôm tại vùng Hạ là việc sử dụng nguồn giếng khoan để nuôi tôm vụ nghịch đang phát triển.

Hộ anh Phạm Văn Cành, ấp Thuận Lợi, xã Nhựt Ninh, huyện Tân Trụ, người có trên 7 năm kinh nghiệm nuôi tôm sú. Anh cho biết: “Trước đây tôi nuôi tôm bằng nguồn nước sông bình thường, cũng như nhiều người dân tại đây, tôi gặp rất nhiều khó khăn trong việc quản lý môi trường mặc dù đã nắm vững về kỹ thuật. Chất lượng nước ở bên ngoài thường khó kiểm soát và phải tốn rất nhiều chi phí để xử lý nước trước khi nuôi.

Bên cạnh đó, trong thời gian nuôi, nếu thay nước hay cấp nước thì mức độ rủi ro rất cao vì không đảm bảo chất lượng nguồn nước cấp. Ngoài yếu tố chất lượng nước, khi nuôi chính vụ bằng nguồn nước sông rất dễ xảy ra dịch bệnh, do đó người nuôi dễ lỗ”.

Trong 3 năm nay, gia đình anh quyết định chuyển sang nuôi tôm bằng nguồn giếng khoan. Hiện tại, với diện tích ao 1 ha, anh đầu tư 1 giếng đào với chi phí xây dựng ban đầu là 5 triệu đồng. Theo anh, giếng phải đào ở độ sâu 30 – 40 m thì chất lượng nước mới tốt và nuôi tôm mới có hiệu quả.

Anh cho biết nguồn nước giếng khoan này có những ưu điểm như độ kiềm cao, dao động từ 120 – 150 mg/l CaCO3, pH từ 6 – 7, và độ mặn từ 10 – 12 phần ngàn. Quy trình xử lý nước thì không khác với nuôi bằng nguồn nước sông, nhưng quan trọng nhất là phải sử dụng EDTA để khử kim loại nặng với liều lượng 1 kg/1000m3 thì sẽ đảm bảo hiệu quả.

Hiện nay gia đình anh nuôi 2 vụ/năm.. Kết quả vụ nuôi vừa qua, Với diện tích 1 ha, anh thả 120.000 con giống, sau 4 tháng nuôi anh thu hoạch được 2 tấn, cỡ 50 con/kg, với giá bán bình quân là 90.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí anh có lãi 80 triệu đồng.

Ấp Bình Thạnh, xã Nhựt Ninh có phong trào nuôi tôm bằng nguồn giếng khoan khá phổ biến. Anh Đỗ Văn Đo, anh cũng có trên 7 năm kinh nghiệm trong nghề nuôi tôm sú. Anh chuyển sang đào giếng khoan trong 2 năm trở lại đây. Anh cho biết ở mỗi vùng đất khác nhau thì chất lượng nước giếng khoan cũng khác nhau.

Tại đây, độ mặn từ 6 – 7 phần ngàn, pH từ 6,5 – 7 và độ kiềm 60 – 70 mg/l CaCO3. Trong vụ vừa rồi, với diện tích ao 4000 m2, anh thả 150.000 post tôm sú, sau 4 tháng nuôi anh thu hoạch 1,7 tấn. Với giá bán 80.000 đồng/kg, anh có lãi 40 triệu đồng. Anh giải thích lợi nhuận không cao do chi phí xử lý nước và điện cho máy bơm cao.

Tuy nhiên anh rất phấn khởi cho chúng tôi biết rằng khi sử dụng nguồn giếng khoan để nuôi tôm thì người dân ở đây chưa bao giờ bị lỗ. Nguyện vọng của anh và nhiều hộ nuôi khác là nhà nước không cấm việc khoan giếng để nuôi tôm, điều đó sẽ giúp người dân yên tâm sản xuất.

Rõ ràng, từ thực tế sản xuất của người dân, nguồn giếng khoan khá phù hợp với nghề nuôi tôm sú. Đây là một xu hướng có triển vọng phát triển tại Long An. Tuy nhiên, khi sử dụng nguồn giếng khoan thì khả năng ảnh hưởng của nó với tầng ngầm sâu như thế nào và các kim loại nặng khi được đưa lên tầng mặt sẽ ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe cũng như môi trường.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-tom-su-bang-nguon-nuoc-gieng-khoan-tai-long-an-13800.html

Kinh Nghiệm Nuôi Tôm Sú Quảng Canh Cải Tiến Năng Suất Cao

Mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến năng suất cao chỉ mới phát triển trong vài năm gần đây ở Cà Mau. Tuy nhiên, nó đã được nhiều nông dân trong tỉnh áp dụng và mang lại hiệu quả khá cao.

Anh Nguyễn Văn Thắng ở xã Hòa Mỹ, huyện Cái Nước (Cà Mau), đã 3 năm liền áp dụng mô hình nuôi tôm sú quảng canh cải tiến năng suất cao, mỗi vụ mang lại lợi nhuận khoảng 80 – 120 triệu đồng/4.000 m2. Anh Thắng chia sẻ những kinh nghiệm trong nghề nuôi tôm:

Về cải tạo ao: Trước tiên phải tát cạn ao, sên vét bùn đáy và phơi khô đáy ao. Sau đó rào lưới xung quanh ao, lấy nước qua lưới lọc độ sâu đầm nuôi đạt 1 m, phần trên trảng là 0,8 m và tiến hành bón vôi với liều lượng 50 kg/1.000 m2. Sau 3 ngày bón vôi, tiếp tục tạt 5 kg Saponine/1.000 m2 diệt cá. Sau 3 ngày tiếp theo tạt thêm 1 gói BZT (227 g) và tiến hành thả giống. Nếu nước chưa lên màu thì bón thêm 1 kg DAP/1.000 m2.

Về con giống: Con giống là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của mô hình, chấp nhận trả giá cao để chọn được giống tốt và có xét nghiệm PCR. Mật độ thả 10 con PL15/m2.

Về cách quản lý và chăm sóc: Sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp trong suốt quá trình nuôi. Bắt đầu cho tôm ăn vào ngày thứ 2 sau khi thả theo hướng dẫn trên bao thức ăn nhưng chỉ cho ăn 2 cử vào buổi tối.

Sử dụng 4 sàng ăn đặt 4 góc ao và 4 sàng ăn đặt trên trảng. Dựa vào các sàng ăn để quyết định tăng thêm thức ăn hay giảm xuống và đồng thời biết thêm sức khỏe tôm nuôi.

Từ tháng thứ 2 trở đi định kỳ 10 ngày 1 lần chài tôm để đánh giá sự tăng trưởng, tỷ lệ sống của tôm, đồng thời điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

Trộn Vitamin C, khoáng và men tiêu hóa vào thức ăn với liều lượng như hướng dẫn của nhà sản xuất và tăng thêm khi có biến động thời tiết.

Từ tháng thứ 2 bắt đầu chạy quạt nước 4 giờ/ngày (sử dụng 2 giàn quạt nước với 10 cánh/giàn).

Trong suốt quá trình nuôi luôn giữ mực nước ổn định 0,8 – 1 m, không thay nước, chỉ cấp bù thêm nước bị hao hụt.

Cứ 10 ngày 1 lần sử dụng chế phẩm sinh học EM tạt xuống ao để làm ổn định chất lượng nước và nền đáy ao nuôi, nâng cao sức khỏe và sức đề kháng của tôm nuôi, đồng thời tăng khả năng hấp thụ thức ăn.

Ngoài ra, phải thường xuyên kiểm tra độ pH, độ kiềm, độ mặn và đặc biệt là đánh giá sức khỏe tôm để có biện pháp phòng trị bệnh thích hợp.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/kinh-nghiem-nuoi-tom-su-quang-canh-cai-tien-nang-suat-cao-13937.html

Những Biện Pháp Quyết Định Hiệu Quả Nuôi Tôm Sú

Theo thống kê đến nay, diện tích nuôi tôm trong vùng quy hoạch toàn tỉnh Nghệ An đạt 1.610 ha, trong đó diện tích nuôi tôm he chân trắng là 309,25 ha tập trung ở một số huyện, thị là Quỳnh Lưu 165 ha, Diễn Châu 65 ha, Nghi Lộc 80,25 ha, TP Vinh 15 ha, Cửa Lò 4 ha….

Những Biện Pháp Quyết Định Hiệu Quả Nuôi Tôm Sú

Số liệu khảo sát của Chi cục Nuôi trồng thuỷ sản cho thấy con tôm sú vẫn là đối tượng nuôi chính trong nuôi mặn lợ tại tỉnh Nghệ An.

Cũng theo báo cáo ban đầu của Chi cục Nuôi trồng thuỷ sản thì năm nay năng suất tôm sú bình quân đạt 0,98 tấn/ha, trong đó năng suất nuôi thâm canh và bán thâm canh đạt 1,5 tấn/ha/vụ. Như vậy, trừ một số trường hợp cá biệt ở xã Quỳnh Bảng là hộ ông Hoàng Hường – Trịnh Môn đạt năng suất 5 tấn/ha, hộ ông Hoàng Tiêu đạt năng suất 4 tấn/ha, năng suất như trên là thấp hơn năng suất của năm 2008. Đâu là bí quyết thành công của hai trường hợp điển hình trên?

Trên cơ sở tìm hiểu và kinh nghiệm hai ông đúc kết được cho biết, muốn nuôi tôm sú đạt hiệu quả cao, người nuôi cần thực hiện một số biện pháp sau:

Thứ nhất, phải cải tạo ao, đầm nuôi tôm bảo đảm đúng quy trình kỹ thuật: chỉ nên nuôi tôm một vụ trong năm để ao có thời gian nghỉ, tạo môi trường ổn định cho vụ nuôi sau đạt hiệu quả. Trước khi thả tôm giống cần kiểm tra các tiêu chí điều kiện thủy lý, thủy hóa như: quan sát thời tiết, môi trường nguồn nước, độ kiềm, độ mặn…

Thứ hai, cần có hệ thống ao lắng tương xứng để bảo đảm cấp, thay nước khi cần thiết, cần có khu vực chứa bùn thải trong quá trình cải tạo ao để tránh ô nhiễm môi trường ao nuôi và chủ động hoàn toàn trong việc thêm, thay nước khi cần thiết.

Thứ ba, đối với hình thức nuôi thâm canh và bán thâm canh mật độ không nên thả quá 20 con/m2, thời gian thả tôm giống đến khi thu hoạch tôm khoảng 120 – 140 ngày.

Thứ tư, khi lắp đặt thiết bị trong ao nuôi phải chú ý tùy theo hiện trạng, hình dạng ao nuôi để lắp đặt nhằm đảm bảo gom được các chất thải theo mong muốn. Số cánh quạt nước trong ao nuôi để bổ sung ô-xy hợp lý nhất là khoảng một cánh/2.000 con tôm.

Thứ năm, tùy theo nguồn nước mặn từng năm mà đưa ra quy trình nuôi và xử lý cho phù hợp, nhất là ứng dụng các chế phẩm vi sinh theo sự khuyến cáo của ngành Nông nghiệp.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nhung-bien-phap-quyet-dinh-hieu-qua-nuoi-tom-su-13974.html

Cách Phòng Ngừa Và Xử Lý Rong Đáy Trong Ao Nuôi Tôm Sú

Trong ao nuôi tôm, đặc biệt là trong hệ thống nuôi quảng canh cải tiến, các loại rong đáy như rong đuôi chồn, rong mền, rong nhớt… phát triển gây ảnh hưởng đến hoạt động sống của tôm, làm cản trở hoạt động di chuyển bắt mồi của tôm, cạnh tranh ô-xy với tôm, hấp thụ các chất dinh dưỡng trong nước làm cho tảo trong ao khó phát triển, gây biến động các yếu tố môi trường nước như pH, ô-xy…

Hơn nữa, khi phát triển quá nhiều, rong sẽ chết và nổi lên mặt nước, nếu không xử lý kịp thời, xác rong sẽ phân hủy sinh ra khí độc, gây ô nhiễm môi trường ao nuôi và có thể gây chết tôm.

Nguyên nhân xuất hiện: Rong đáy thường xuất hiện ở những ao nước quá cạn (<0,8 m), tảo không phát triển, ánh sáng xuyên xuống nền đáy ao, mương, trảng nuôi và làm cho rong đáy phát triển mạnh. Ở những ao, mương ít cải tạo, cải tạo không triệt để, ao nhiều chất hữu cơ cũng thường gặp trường hợp này.

Cách phòng ngừa: Để ngăn chặn được sự phát triển của rong đáy, luôn giữ mực nước trong ao >1 m, cải tạo ao, mương kỹ, dùng phân vô cơ, phân hữu cơ hoặc các hóa chất gây màu để gây màu nước giúp tảo phát triển, độ trong nằm trong khoảng 30-40 cm, các yếu tố môi trường luôn ổn định.

Cách xử lý khi trong ao có rong đáy: Có thể sử dụng các loại hóa chất như đồng sulphat (CuSO4), BKC, Formol… để diệt rong đáy. Tuy nhiên, biện pháp này chỉ có hiệu quả tức thời, sau một thời gian rong vẫn tiếp tục phát triển. Không những thế, khi sử dụng hóa chất diệt rong, sẽ gây ra tình trạng rong chết hàng loạt và nếu xử lý không kỹ thì sự phân hủy của lượng rong lớn này sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tôm nuôi và chất lượng môi trường nước ao…

Biện pháp xử lý rong đáy hiệu quả nhất là dùng lưới kéo rong ra khỏi ao, dùng vợt vớt những rong nổi chết mặt nước, ở cuối ao, tránh để cho rong chìm lại xuống ao. Sau đó nâng mực nước ao lên >1 m và gây lại màu nước, giúp tảo phát triển tạo màng che ngăn chặn sự chiếu sáng của mặt trời xuống đáy ao.

Khi thiếu ánh sáng, rong đáy sẽ tàn lụi dần và không phát triển nữa. Trong xử lý rong đáy nên bổ sung thêm Vitamine C vào thức ăn để giúp tôm tăng sức đề kháng, sử dụng chế phẩm sinh học để xử lý nền đáy ao.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cach-phong-ngua-va-xu-ly-rong-day-trong-ao-nuoi-tom-su-13976.html

Quản lý thức ăn trong ao nuôi tôm sú thâm canh

Trong nuôi tôm sú thâm canh, thức ăn tự nhiên chỉ có vai trò nhất định trong thời gian đầu sau khi thả giống. Sau đó tôm phải dựa vào thức ăn viên để lớn. Vì vậy, cho ăn là một khâu kỹ thuật quan trọng quyết định đến năng suất và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi.

Chi phí thức ăn chiếm hơn 50-60% tổng chi phí sản xuất. Để quản lý thức ăn hiệu quả, người nuôi cần lưu ý một số vấn đề sau:

1. Chọn thức ăn có độ đạm từ 42-35% tùy theo giai đoạn phát triển của tôm, thức ăn có mùi đặc trưng hấp dẫn tôm.

2. Cho ăn từ 4-6 lần/ngày, không cho ăn dư thừa, nên cho ăn hơi thiếu để tránh ô nhiễm và lãng phí thức ăn. Kết hợp chài, sàng ăn, kiểm tra đường ruột tôm và tình trạng sức khỏe của tôm để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

3. Trong chu kỳ lột xác của tôm cần giảm thức ăn từ 20-50% trong 2-3 ngày.

4. Nếu mưa liên tục nhiều ngày, cần giảm thức ăn từ 10-20%.

5. Cần bổ sung thêm vitamin, khoáng và men tiêu hóa vào khẩu phần cho tôm từ 1-2%.

6. Trong 2 tháng đầu, do tập tính của tôm phân bố ở khu vực ven bờ nên thức ăn cần được rải ở vùng nước gần bờ (3-4 m). Từ tháng thứ 3 thức ăn được rải đều khắp ao. Tránh rải thức ăn nơi đáy ao dơ bẩn và quá sát bờ. Các vị trí có nhiều chất cặn bã lắng tụ nên làm dấu bằng cọc để tránh cho tôm ăn ở đó.

7. Kích cỡ viên thức ăn phù hợp với cỡ tôm để tránh tôm phân đàn. Khi chuyển đổi số thức ăn phải chuyển từ từ, mỗi ngày bớt 15-20% thức ăn nhỏ để trộn vào 15-20% thức ăn lớn hơn.

8. Sau 1 tháng nuôi kiểm tra thấy tôm không đều thì tiến hành cho tôm ăn dặm. Cứ mỗi cử ăn trừ lại 10% lượng thức ăn/cử đó, sau 1 tiếng từ lúc cho ăn thì tiến hành cho ăn dặm bằng cách đi vòng quanh bờ rải thức ăn.

Cho tôm ăn phù hợp, đủ lượng, đủ chất sẽ giúp tôm lớn nhanh, giảm chi phí sản xuất, giảm ô nhiễm môi trường ao nuôi và tăng lợi nhuận./.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quan-ly-thuc-an-trong-ao-nuoi-tom-su-tham-canh-35031.html

Bổ sung axit hữu cơ trong chế độ ăn của Tôm sú

Mối đe dọa bệnh trong ngành công nghiệp nuôi trồng thủy sản cùng với nhiều hạn chế hoặc cấm sử dụng kháng sinh đã nâng cao sự quan tâm trong việc đánh giá lựa chọn thay thế kháng sinh.

Bổ sung axit hữu cơ trong chế độ ăn của Tôm sú

Bệnh gần đây nhất đối với ngành công nghiệp tôm trên thế giới là bệnh hoại tử cấp tính hepatopancreatic (AHPND) hay thường được gọi là hội chứng tử vong sớm (EMS), khi đó tỷ lệ tôm có thể tử vong là 100%.

Một số dòng vi khuẩn Vipio parahaemolyticus được xác định là tác nhân gây bệnh. Điều này đã dẫn đến việc lạm dụng kháng sinh trong ngành công nghiệp nuôi trồng thủy sản.

Việc sử dụng bừa bãi các loại thuốc kháng sinh có thể ảnh hưởng tiêu cực đến các loài vật chủ, môi trường cũng như sức khỏe của người tiêu dùng, do đó nhiều quốc gia đã hạn chế tối đa hoặc cấm sử dụng loại thuốc này.

Một lựa chọn đầy hứa hẹn là các axit hữu cơ đã được sử dụng qua nhiều thập kỷ trong ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi như là một chất hoạt hóa kháng khuẩn và tăng trưởng.

Tuy nhiên, thông tin rất hạn chế trên các ứng dụng của họ đối với ngành công nghiệp nuôi tôm.

Nghiên cứu này nhằm kiểm tra tác động có lợi của sự pha trộn một axit hữu cơ từ vi sinh vật kết nang mới lạ (OAB) để sản xuất tôm sú, Penaeus monodon.

Tôm được nuôi trong ao đất tại một trang trại thương mại và cho ăn thức ăn công nghiệp mà không cần (chế độ ăn A) hoặc (chế độ ăn B) bổ sung acid hữu cơ ở mức 2% OAB suốt giai đoạn nuôi thương phẩm.

Tôm nuôi đã được lấy mẫu ngẫu nhiên và chuyển đến phòng thí nghiệm để kiểm tra phản ứng đối với việc sử dụng chất dinh dưỡng, sức đề kháng của tôm với Vipio harveyi và mô bệnh học liên quan hepatopancreatic cũng như tính hoạt động phenoloxidase (PO).

Kết quả cho thấy sau 22 tuần nuôi cấy trong ao, tôm tăng trưởng tương tự nhau giữa các phương pháp xử lý.

Nồng độ nitrite và nitrate-N-N thấp hơn trong ao cho thấy việc sử dụng protein mang lại hiệu quả đối với tôm được cho ăn các axit hữu cơ.

Điều này được hỗ trợ bởi dữ liệu từ các thử nghiệm khả năng tiêu hoá có protein thô, nhưng cũng là chất khô, tro và  việc sử dụng phốt pho đã được tăng cường đáng kể trong tôm cho ăn chế độ B.

Tổng số vi khuẩn tồn tại và vi khuẩn phẩy thì thấp hơn vào cuối giai đoạn nuôi thương phẩm trong ao nuôi tôm cho ăn chế độ ăn B.

Tôm cho ăn chế độ ăn B sống sót cao hơn nhiều dưới thách thức V. harveyi, có thể do tăng cường tính hoạt động PO và ít sự phá hủy hepatopancreatic hơn.

Tổng số lượng vi khuẩn phẩy Vipio trong gan tụy của tôm cho ăn chế độ ăn B thấp hơn đáng kể so với chế độ A.

Nghiên cứu này cung cấp số liệu báo cáo đầu tiên về việc sử dụng axit hữu cơ dinh dưỡng trong một trang trại nuôi tôm thương mại.

Việc tăng cường sử dụng các chất dinh dưỡng có thể làm giảm chi phí thức ăn và cải thiện chất lượng nước trong khi sức đề kháng của tôm cao hơn đối với vi khuẩn gây bệnh như vi khuẩn Vipio spp.

Có thể cung cấp cho người nuôi tôm phương pháp hiệu quả để giảm thiểu dịch bệnh trong ngành công nghiệp nuôi trồng thủy sản tôm toàn cầu

Biên dịch: www.2lua.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/bo-sung-axit-huu-co-trong-che-do-an-cua-tom-su-32589.html